Tổng quan nghiên cứu

Khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam từ xuất phát điểm khiêm tốn với 414 doanh nghiệp vào năm 1991 đã có bước phát triển vượt bậc, đạt hơn 350.000 doanh nghiệp đăng ký vào cuối năm 2008, đóng góp tới 40% GDP và tạo ra 90% số việc làm mới cho toàn xã hội. Sự trỗi dậy mạnh mẽ này đặt ra vấn đề nghiên cứu cấp thiết về bản chất chính trị, địa vị pháp lý và vị trí của tầng lớp doanh nhân trong kết cấu xã hội - giai cấp thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu cụ thể của luận văn là xác định cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành tầng lớp doanh nhân Việt Nam, phân tích các đặc điểm về số lượng, cơ cấu, nguồn gốc xuất thân, đồng thời làm rõ vai trò, xu hướng biến đổi và mối quan hệ giữa doanh nhân với liên minh công nhân - nông dân - trí thức.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào đội ngũ doanh nhân thuộc khu vực kinh tế tư nhân trong nước trong tiến trình đổi mới từ năm 1986 đến năm 2009. Về mặt ý nghĩa thực tiễn, công trình cung cấp luận cứ khoa học quan trọng phục vụ mục tiêu xây dựng 500.000 doanh nghiệp hoạt động hiệu quả vào năm 2010 theo định hướng của Chính phủ. Đồng thời, nghiên cứu góp phần đề xuất các giải pháp nâng mức đóng góp thuế của khu vực tư nhân vượt trên mốc 14,8% tổng thu ngân sách nhà nước, tạo hành lang vững chắc để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên hội nhập kinh tế quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa duy vật lịch sử của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I. Lênin về hình thái kinh tế - xã hội, quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, cùng tư tưởng của Lênin trong Chính sách kinh tế mới (NEP) về việc sử dụng kinh tế tư nhân làm mắt xích trung gian phát triển sức sản xuất. Bên cạnh đó, luận văn tích hợp các lý thuyết kinh tế học phương Tây kinh điển về doanh nhân: lý thuyết gánh vác rủi ro và bất định của Richard Cantillon và Frank Knight; lý thuyết về sự đổi mới sáng tạo cùng "kết hợp mới các yếu tố sản xuất" của Joseph Schumpeter năm 1934; khung phân tích chức năng điều phối, giám sát của Jean-Baptiste Say và Mark Casson; cùng mô hình phân định ba vai trò nhà tư bản, nhà quản lý và doanh nhân của Fritz Redlich. Hệ thống khái niệm cốt lõi được vận dụng bao gồm: Tầng lớp xã hội, Doanh nhân Việt Nam mới, Kết cấu xã hội - giai cấp và Phân tầng xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn khai thác nguồn dữ liệu thống kê thứ cấp từ Tổng cục Thống kê, Trung tâm Thông tin Doanh nghiệp thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cùng dữ liệu khảo sát từ các đề tài quy mô quốc gia: cuộc điều tra 481 doanh nghiệp tư nhân của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) phối hợp với JICA năm 2000, dữ liệu điều tra 40.000 doanh nghiệp năm 2005, khảo sát 1.800 doanh nhân trên phạm vi cả nước do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thực hiện giai đoạn 2006 - 2008, và báo cáo trên 63.000 doanh nghiệp tư nhân của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Cỡ mẫu nghiên cứu biến thiên từ 481 đến 63.000 đơn vị được chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên (stratified random sampling), đảm bảo đại diện đa dạng cho các vùng kinh tế, ngành nghề và quy mô vốn.

Tác giả sử dụng tổng hợp phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp kết hợp logic và lịch sử, phương pháp phân tích liên ngành triết học - xã hội học - kinh tế học và phương pháp thống kê so sánh. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm làm rõ bản chất vận động biện chứng của một tầng lớp xã hội mới hình thành, phân tích sâu sắc địa vị kinh tế - chính trị của doanh nhân mà không bị rơi vào sự đồng nhất cơ học với giai cấp tư sản phương Tây. Khung thời gian phân tích bao phủ toàn diện tiến trình đổi mới từ năm 1986 đến năm 2009.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, số lượng doanh nghiệp tăng trưởng nhanh nhưng thực lực vận hành còn chênh lệch đáng kể. Trong tổng số hơn 350.000 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh đến cuối năm 2008, số lượng doanh nghiệp thực tế hoạt động chỉ đạt khoảng 220.000 đơn vị (chiếm khoảng 62,8%, thấp hơn 40% so với số đăng ký). Số lượng doanh nhân thực tế điều hành ước tính đạt trên 250.000 người.

Thứ hai, cơ cấu doanh nghiệp phân bổ chủ yếu ở quy mô vừa và nhỏ (SMEs chiếm 95% tổng số doanh nghiệp với tổng vốn 85 tỷ USD). Về quy mô lao động, có 51,3% doanh nghiệp sử dụng dưới 10 lao động, 44% từ 10 đến 200 lao động và chỉ 1,43% có từ 200 đến 300 lao động. Về quy mô vốn, 42% doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng, 37% có từ 1 đến 5 tỷ đồng, và chỉ 8,18% đạt mức 5 đến 10 tỷ đồng. Cơ cấu ngành nghề ghi nhận gần 75% hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ và 25% thuộc khối sản xuất.

Thứ ba, nguồn gốc xuất thân của doanh nhân thể hiện tính liên minh xã hội sâu sắc: 66% xuất thân từ gia đình cán bộ nhà nước, 16% từ gia đình kinh doanh buôn bán. Khảo sát 1.800 doanh nhân của VCCI ghi nhận 38,93% từng là cán bộ công chức (17,6%), bộ đội, công an (11,46%), công nhân (9,89%); tỷ lệ doanh nhân là đảng viên đạt 19,2% và đoàn viên thanh niên đạt 28,34%. Về độ tuổi, nhóm từ 30 đến 50 tuổi chiếm 57,4%, doanh nhân trẻ chiếm 75% đến 80% toàn quốc. Nữ doanh nhân lãnh đạo 25% tổng số doanh nghiệp và quản lý các công ty chiếm 30% giá trị vốn hóa thị trường chứng khoán.

Thứ tư, chất lượng học vấn bộc lộ sự phân hóa: trong khi khảo sát của CIEM ghi nhận 80,5% doanh nhân có trình độ đại học và chuyên môn (thạc sĩ chiếm 0,6%, tiến sĩ 0,8%), thì điều tra diện rộng 63.000 doanh nghiệp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư chỉ ra 43% chủ doanh nghiệp chỉ có trình độ từ cấp 3 trở xuống.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm trên có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột kép so sánh giữa số lượng đăng ký và thực tế hoạt động, kết hợp bảng ma trận phân phối tỷ trọng vốn - lao động nhằm minh họa rõ mô hình "đáy tháp rộng, đỉnh hẹp" của doanh nghiệp Việt Nam. Nguyên nhân của tình trạng này bắt nguồn từ điểm xuất phát kinh tế tiểu nông tự cấp tự túc, thời gian chuyển đổi cơ chế thị trường mới qua hơn 20 năm, hệ thống đào tạo quản trị kinh doanh chưa theo kịp thực tiễn và tính cục bộ, phong cách buôn bán nhỏ còn chi phối.

Khi đối chiếu với lý thuyết của Kornai János, kết quả nghiên cứu tái khẳng định sức sống mãnh liệt của kinh tế tư nhân khi được cởi bỏ các rào cản hành chính. So sánh với các công trình nghiên cứu xã hội học của Quản Văn Trung và Nguyễn Đình Tấn, luận văn làm sáng tỏ thêm rằng doanh nhân Việt Nam là một tầng lớp xã hội mới tiến bộ, gắn bó mật thiết với chế độ và lợi ích dân tộc chứ không phải một giai cấp bóc lột tách rời. Đóng góp kinh tế vượt bậc với tốc độ tăng trưởng 18 - 24%/năm (cao hơn mức dưới 10% của khu vực nhà nước) và đóng góp hơn 6.000 tỷ đồng tiền thuế mỗi năm đã củng cố vững chắc vị thế của doanh nhân ở vị trí thứ tư trong kết cấu xã hội - giai cấp theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X của Đảng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường và cắt giảm tối thiểu 40% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính, đảm bảo 100% doanh nghiệp tư nhân tiếp cận bình đẳng các nguồn lực đất đai và tín dụng trung dài hạn trước năm 2012 do Quốc hội, Chính phủ và Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện.

Thứ hai, triển khai chương trình quốc gia về đào tạo và chuẩn hóa kỹ năng quản trị hiện đại cho ít nhất 70% đội ngũ chủ doanh nghiệp tư nhân, nâng tỷ lệ doanh nhân có trình độ sau đại học lên mức 5% trong giai đoạn 2010 - 2015 do Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp cùng VCCI và các trường đại học triển khai.

Thứ ba, tăng cường cơ chế đối thoại ba bên định kỳ giữa cơ quan quản lý, hiệp hội doanh nghiệp và công đoàn nhằm đạt chỉ tiêu 100% người lao động trong các doanh nghiệp tư nhân được ký kết hợp đồng chính thức, giảm 50% số vụ tranh chấp lao động tự phát vào năm 2013 do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam điều phối.

Thứ tư, xây dựng và củng cố mạng lưới hiệp hội ngành nghề liên kết chuỗi giá trị, nâng tỷ lệ doanh nghiệp tham gia các mạng lưới sản xuất tập trung từ dưới 20% lên mức 45% vào năm 2015, tạo tiền đề hình thành tối thiểu 10 tập đoàn kinh tế tư nhân tầm cỡ khu vực do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) làm đầu mối thúc đẩy.

Thứ năm, tăng cường công tác phát triển tổ chức Đảng và đoàn thể trong khu vực kinh tế tư nhân, phấn đấu kết nạp từ 25% đến 30% chủ doanh nghiệp có đủ tiêu chuẩn vào Đảng trước năm 2015 nhằm củng cố vững chắc định hướng xã hội chủ nghĩa do Ban Tổ chức Trung ương chỉ đạo các cấp ủy địa phương thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan hoạch định chính sách và quản lý nhà nước có thể sử dụng dữ liệu thực tế về 350.000 doanh nghiệp đăng ký và 220.000 doanh nghiệp hoạt động để hoàn thiện Luật Doanh nghiệp, thiết kế các gói kích cầu và xây dựng cơ chế bảo vệ quyền tài sản cho kinh tế tư nhân.

Nhóm nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Triết học, Kinh tế chính trị và Xã hội học tìm thấy hệ thống luận cứ khoa học liên ngành về sự biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp từ năm 1986 đến 2009 để phục vụ giảng dạy và mở rộng nghiên cứu phân tầng xã hội.

Nhóm các tổ chức đại diện, hiệp hội doanh nghiệp và VCCI có thể khai thác các số liệu khảo sát từ 1.800 doanh nhân và 63.000 doanh nghiệp để xây dựng chương trình bồi dưỡng văn hóa kinh doanh, phát huy vai trò của 25% doanh nhân nữ và nâng cao năng lực liên kết cụm ngành.

Nhóm các nhà quản trị, chủ doanh nghiệp tư nhân sử dụng công trình để nhìn nhận rõ các hạn chế về cơ cấu quy mô vốn và khoảng trống tri thức quản lý (khi 43% có trình độ từ cấp 3 trở xuống), từ đó định hình chiến lược tái cấu trúc, nâng cao năng lực cạnh tranh và thực hiện chuẩn mực trách nhiệm xã hội.

Câu hỏi thường gặp

Tầng lớp doanh nhân Việt Nam thời kỳ đổi mới là một giai cấp độc lập hay chỉ là một tầng lớp xã hội? Doanh nhân Việt Nam hiện được xác định là một tầng lớp xã hội chứ không phải giai cấp riêng biệt. Quy mô khoảng 250.000 người chưa đủ tạo thành một tập đoàn người to lớn. Hơn nữa, lực lượng này hình thành trong thời kỳ quá độ chưa có phương thức sản xuất thống trị, thành viên xuất thân đa dạng từ công nhân, nông dân và có tới 66% từ gia đình cán bộ nhà nước.

Khu vực kinh tế tư nhân đóng góp bao nhiêu phần trăm vào các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô trong giai đoạn nghiên cứu? Khu vực kinh tế tư nhân đóng góp tới 40% GDP (tương đương tỷ trọng 40,6% của khu vực nhà nước năm 2005) với tốc độ tăng trưởng ấn tượng 18 - 24%/năm. Khu vực này giải quyết 90% số việc làm mới trên cả nước và đóng góp hơn 6.000 tỷ đồng tiền thuế hàng năm, chiếm 14,8% tổng thu ngân sách quốc gia.

Đặc điểm nhân khẩu học nổi bật về độ tuổi và giới tính của doanh nhân Việt Nam là gì? Về độ tuổi, nhóm doanh nhân từ 30 đến 50 tuổi chiếm 57,4%, trong đó lực lượng doanh nhân trẻ chiếm 75% đến 80% toàn quốc. Về giới tính, nữ doanh nhân lãnh đạo 25% tổng số doanh nghiệp và quản lý các công ty chiếm 30% giá trị vốn hóa chứng khoán, thể hiện vị thế bình đẳng giới vượt trội so với mức 2% của danh sách Fortune 500 tại Mỹ.

Trình độ học vấn của các chủ doanh nghiệp tư nhân trong nước bộc lộ những hạn chế cụ thể nào? Dù khảo sát của CIEM ghi nhận 80,5% doanh nhân có bằng đại học, điều tra diện rộng trên 63.000 doanh nghiệp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư chỉ ra 43% chủ doanh nghiệp có trình độ từ cấp 3 trở xuống. Tỷ lệ có bằng thạc sĩ chỉ đạt 0,6% và tiến sĩ 0,8%, tạo rào cản lớn khi áp dụng các công cụ quản trị hiện đại.

Việc Đảng xếp doanh nhân ở vị trí thứ tư tại Đại hội X mang lại ý nghĩa bước ngoặt như thế nào? Việc đưa doanh nhân từ vị trí thứ tám lên vị trí thứ tư (sau công nhân, nông dân, trí thức) và chính thức cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân (19,2% doanh nhân là đảng viên) thể hiện bước đột phá tư duy của Đảng. Điều này xác lập địa vị chính trị bình đẳng, khẳng định doanh nhân là động lực quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận Mác - Lênin và kinh tế học hiện đại để xác định chính xác khái niệm, bản chất của tầng lớp doanh nhân Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Đánh giá toàn diện thực trạng cơ cấu với 95% doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa, 42% có vốn dưới 1 tỷ đồng, phản ánh trung thực diện mạo kinh tế thời kỳ đầu hội nhập.
  • Khẳng định vai trò trụ cột của doanh nhân qua việc tạo 90% việc làm, đóng góp 40% GDP và hơn 6.000 tỷ đồng thuế ngân sách mỗi năm.
  • Xác lập vị trí chính trị - xã hội vững chắc của tầng lớp doanh nhân ở vị trí thứ tư trong kết cấu xã hội - giai cấp theo đường lối Đại hội X của Đảng.
  • Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp hoàn thiện thể chế pháp luật, nâng chuẩn đào tạo và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng.

Đóng góp khoa học cốt lõi của luận văn là cung cấp khung luận cứ triết học sâu sắc và hệ thống số liệu thực chứng vững chắc, giúp giải phóng tư duy lý luận về kinh tế tư nhân tại Việt Nam. Trong lộ trình 2010 - 2015, việc hiện thực hóa mục tiêu 500.000 doanh nghiệp hoạt động hiệu quả đòi hỏi sự chung tay đồng bộ của toàn hệ thống chính trị. Hãy tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng các kết quả của luận văn để thúc đẩy xây dựng đội ngũ doanh nhân Việt Nam tài năng, bản lĩnh và phụng sự Tổ quốc vững bền.