Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC VIẾT CHO THIẾU NHI VÀ NHÀ VĂN NGUYỄN NHẬT ÁNH 1. Khái quát về văn học thiếu nhi ở Việt Nam 1. Khái niệm về văn học thiếu nhi Văn học phản ánh hiện thực cuộc sống ở nhiều khía cạnh, nhiều cung bậc. Nếu hình dung cuộc sống là một bức tranh thì các nhà văn, thông qua lăng kính chủ quan của mình, là người tái hiện những mảnh ghép của bức tranh ấy.
Ngoài việc phản ánh những xúc cảm riêng tư của cá nhân, ngòi bút của các nhà văn thường có xu hướng hướng ngòi bút của mình tới những vấn đề có tính thời đại, chẳng hạn các nhà văn hiện đại quan tâm tới vấn đề nhìn nhận, đánh giá lại chiến tranh, lịch sử, nông thôn đổi mới, các vấn đề đô thị,… Trong đó, viết về/cho thiếu nhi cũng trở thành một trong số những vấn đề được văn học Việt Nam hiện đại quan tâm. Nhiều cây bút thuộc nhiều lứa tuổi, với nhiều phong cách nghệ thuật khác nhau như Tô Hoài, Bùi Hiển, Phạm Hổ, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Ngọc Tư. đã lựa chọn nâng niu, yêu thương, nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ qua các vần thơ, các trang văn trong sáng, phù hợp với lứa tuổi thiếu nhi, tạo nên một dòng văn học viết cho thiếu nhi với những thành tựu đáng được ghi nhận. Vậy văn học viết cho thiếu nhi là gì? phát triển như thế nào? có dòng văn viết cho thiếu niên ra sao? Có rất nhiều quan điểm khác nhau định nghĩa về văn học thiếu nhi.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, văn học thiếu nhi theo nghĩa hẹp “gồm những tác phẩm văn học hoặc phổ cập khoa học dành riêng cho thiếu nhi”. Nhưng có những tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi lại được người lớn đón nhận, người lớn sáng tác cho thiếu nhi bên cạnh lực lượng thiếu nhi tự sáng tác cho lứa tuổi mình. Nhiều vấn đề được đề cập đến trong dòng văn học này. Nhà văn Lê Phương Liên định nghĩa văn học thiếu nhi là một thể loại văn học đặc thù nhằm phục vụ một đối tượng văn học rộng lớn bao gồm: lứa tuổi mầm non (dưới 6 tuổi), lứa tuổi nhi đồng (từ 6 -10 tuổi), lứa tuổi thiếu niên (từ 11 - 13 tuổi), tuổi mới lớn (từ 13, 14 tuổi - 18, 19 tuổi).
Vì thế, nhiều nhà nghiên cứu thống nhất cho rằng: “Văn học thiếu nhi là những tác phẩm viết về thiếu nhi và viết cho thiếu nhi do người lớn hoặc trẻ em sáng tác, được nhìn qua lăng kính trẻ thơ, có nội dung hướng đến giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách trẻ em ở mọi lứa tuổi khác nhau. Có thể coi những sáng 12 tác viết cho thiếu nhi bao gồm: những tác phẩm viết cho trẻ em tuổi mầm non; những tác phẩm viết cho thiếu niên, nhi đồng; những tác phẩm viết cho tuổi mới lớn. Khái niệm này đã bàn đến kiểu loại, người sáng tác, nội dung và phân loại các tác phẩm văn học thiếu nhi. Trong các định nghĩa trên, chúng tôi nhận thấy định nghĩa về văn học thiếu nhi được tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương đề cập là hợp lí và có sức thuyết phục.
Vì thế trong luận văn, chúng tôi hiểu văn học thiếu nhi theo định nghĩa này và như vậy thì văn học viết về/cho thiếu niên cũng được xác định là một bộ phận của văn học thiếu nhi. Khái quát về hành trình của văn học thiếu nhi ở Việt Nam Văn học thiếu nhi là một bộ phận của văn học dân tộc, nó là nhành hoa nhỏ nở riêng nhưng đầy cuốn hút và ngày càng chứng minh được vị thế của mình. Khởi nguồn của sự lớn lên về tinh thần của trẻ Việt Nam là một bầu trời đầy trăng sao, hoàng tử, công chúa, bà tiên, ông Bụt, những cánh rừng xa xanh với bao con thú biết nói, bao loài hoa cỏ đẹp tươi … có trong những lời kể thắm tình của bà, lời ru ngọt ngào của mẹ êm đềm bên vành nôi. Trí tuệ non nớt được nuôi dưỡng tưới đẫm bởi những bài ca dao, đồng dao, truyện thần thoại, cổ tích, ngụ ngôn… nâng đỡ các em vào cuộc sống.
Mạch nguồn dân gian này sẽ trở thành một kỉ niệm đẹp không dễ phai nhòa trong kí ức tuổi thơ của mỗi người. Văn học thiếu nhi không được quan tâm trong thời kì phong kiến trung đại. Giai đoạn này lực lượng vua, quan, nho sĩ tiến bộ luôn tâm niệm bởi lễ giáo đạo đức phong kiến hà khắc, bởi văn dĩ tải đạo thi dĩ ngôn chí. Họ chưa quan tâm đến độc giả là trẻ em.
Đến những năm đầu thế kỉ XX, khi văn học viết bằng chữ Quốc ngữ ra đời, các nhà văn đã có viết đến chuyện gia đình, những đứa trẻ như trong Cha con nghĩa nặng của Hồ Biểu Chánh. Nhưng đề cập sâu đến đời sống nội tâm của trẻ là chưa có. Giai đoạn từ 1930-1945, nhiều tác giả trong Tự lực văn đoàn đề cập đến những đứa trẻ thành thị nhưng chưa khái quát được số phận, cuộc đời chúng. Còn những nhà văn hiện thực phê phán như Nam Cao với một loạt các truyện ngắn viết về trẻ nghèo ở nông thôn với nhiều bất hạnh, vất vả, đắng cay như: Từ ngày mẹ chết, Bài học quét nhà, Trẻ con không được ăn thịt chó, Một đám cưới, Một bữa no… Còn với Nguyễn Công Hoan là truyện Hai cái bụng, Bữa no đòn….
Nguyên Hồng với Những ngày thơ ấu thực sự đã đem đến cho người đọc thấu hiểu những cơ cực thường ngày, những lầm lũi, khó nhọc, những bươn chải mưu sinh, những nỗi đau 13 thể xác và tinh thần mà trẻ em xưa từng trải qua. Dẫu những đắng cay ấy có dày lên thì chúng ta cũng hiểu giữa hoàn cảnh đất nước còn lầm than nô lệ thì trẻ em chịu khổ, gánh nặng tâm hồn hoặc chưa được quan tâm đúng mực cũng là điều dễ hiểu. Bên cạnh đó, một số cây bút hiện thực khác lại viết theo lối đồng dao, mượn chuyện loài vật để giáo dục con người, đặc biệt đối tượng hướng đến của họ là trẻ em. Đó là Tô Hoài với Đám cưới chuột, Võ sĩ Bọ Ngựa, Dế Mèn phiêu lưu kí khiến ta lạc vào thế giới dễ thương, ngọt ngào của trẻ thơ.
Qua giọng văn hóm hỉnh, giàu chất trữ tình những con vật ngộ nghĩnh ấy chuyển tải được nội tâm đáng yêu, hồn nhiên trong trẻo nhưng đầy tinh nghịch, thích phiêu lưu khám phá, thỏa trí tò mò, ham hỏi của trẻ thơ. Trong thời kì “vất vả đau thương” nhưng “tươi thắm vô ngần” của đất nước Việt Nam, dù chịu nhiều đớn đau trong cuộc chiến gay go, quyết liệt chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ thì ta vẫn nhận thấy một dấu hiệu đáng mừng là nhiều nhà văn nhà thơ quan tâm đến trẻ em hơn, viết nhiều hơn và còn xuất hiện những tác giả là trẻ em nữa. Báo Thiếu sinh - tiền thân của báo Thiếu niên tiền phong ra đời năm 1946 thể hiện được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với thế hệ măng non. Các tờ báo khác là diễn đàn của các em như Tuổi trẻ, Măng non … hay Nhà xuất bản Kim Đồng cũng ra mắt đã đánh dấu sự chuyển mình của văn học hướng đến đối tượng nhỏ tuổi này.
Dù các nhân vật chính đều là những tấm gương thiếu nhi dũng cảm trong cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước cũng đã thổi nguồn sinh khí cho các tác giả khác niềm hào hứng viết nhiều, viết khỏe. Các cây bút đã có chỗ dựa là nhà xuất bản Kim Đồng thì hiện thực xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và chống Mĩ ở miền Nam đã trở thành đề tài khơi nguồn cảm hứng cho các tác giả cả về số lượng và về chất lượng. Ở mảng thơ trữ tình, Tố Hữu đóng góp những bài thơ ca ngợi những em bé liên lạc gan dạ, dũng cảm, nhiệt tình với cách mạng như: Lượm, Phước ơi… Một số cái tên gây ấn tượng với thiếu nhi qua những bài thơ như đồng dao của Võ Quảng, Phạm Hổ đã gần gũi với thế giới nội tâm các em. Riêng Trần Đăng Khoa - nhà thơ thiếu nhi đã cho ra đời tập Góc sân khoảng trời hồn nhiên đáng yêu, lí lắc.
Xuất hiện nhiều tác phẩm văn xuôi viết về thiếu nhi vừa có giá trị văn học vừa có giá trị lịch sử, địa lí như Đất rừng phương Nam (Đoàn Giỏi), Em bé bên bờ sông Lai Vu (Vũ Cao), Cái Thăng (Võ Quảng)… Các tác giả không chỉ hướng đến những sự kiện lịch sử như tiểu thuyết Lá cờ thêu sáu chữ vàng (Nguyễn Huy Tưởng), An Cương với Sóng gió Bạch Đằng mà họ còn tập trung phản ánh góc 14 nhìn trẻ thơ về cuộc sống hàng ngày các em đang làm quen như: Bùi Hiển với truyện ngắn Ngày công đầu tiên của cu Tí, Tô Hoài với Đàn chim gáy, Nguyễn Kiên với Kể chuyện nông thôn…. Đề tài viết về mái trường cũng được chú ý. Sau này khi miền Bắc vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa là hậu phương vững chắc cho tiền tuyến lớn miền Nam thì văn học viết cho thiếu nhi càng dày thêm như: Quê nội của Võ Quảng, Kim Đồng của Tô Hoài… Còn ở miền Nam lại là những em bé chăm ngoan, yêu thương ba mẹ, thay ba mẹ chăm sóc các em khi họ sẵn sàng tham gia kháng chiến. Phải kể đến chị em Chiến, Việt trong Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi), em bé trong Mẹ vắng nhà (Nguyễn Thi), bé Thu trong Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng) và còn có những em bé nơi núi rừng Xô Man, Tây Nguyên thật thà, chân chất nhưng kiên định, trung thành với cách mạng như Tnú, Mai khi nhỏ, là Dít, bé Heng trong Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành).
Sau khi đất nước hòa bình thống nhất, văn học đi tìm nguồn đề tài mới nhưng chưa tạo được tiếng vang. Hơn nữa, văn học viết cho thiếu nhi không được đề cao khi mà cuộc sống còn đang đối diện với cái đói, cái nghèo sau cuộc chiến. Chỉ từ sau khi đổi mới căn bản đất nước, từ sau năm 1986, văn học nói chung và văn học thiếu nhi nói riêng đã chạm sâu đến mọi mặt biến chuyển của đời sống xã hội, những thay đổi của nền kinh tế thị trường, những gấp gáp trong lối sống chạy, sống vội vàng tác động sâu sắc tới các gia đình và ảnh hưởng trực tiếp đến trẻ em.