mở đầu cho một hướng mới trong nghiên cứu câu tiếng Việt: hướng nghiên cứu câu theo bình diện giao tiếp (cú pháp giao tiếp, thông báo) mà trước đó còn ít được chú ý. Tuy nhiên, về lý luận cũng như thực tiễn, cách phân tích câu, phân loại câu theo đề thuyết mà Cao Xuân Hạo chủ trương không loại trừ và thay thế cách phân tích theo bình diện cú pháp như một số tác giả đã chỉ ra [32;1 - 15]. Hồ Lê cũng chủ trương phân tích câu theo đề thuyết với việc dựa vào các kiểu quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành tố trực tiếp tạo nên cấu trúc câu. Theo ông, ngoài câu một thành phần hay câu gọi tên (Ví dụ: Mùa hạ.),tất cả các câu hai thành phần đều có cấu tạo đề thuyết và bao gồm bốn kiểu: - Câu chủ - vị (chủ ngữ - vị ngữ).
Ví dụ: (1) Ông Ba đi họp. Ví dụ: (2) Quyển sách này, ông Ba mới mua. - Câu cách thức - hành động (thức ngữ - hành động ngữ). 5 Ví dụ: (3) Một cách chậm rãi, ông Ba bắt đầu kể chuyện.
- Câu điều kiện - hệ quả (điều kiện ngữ - hệ quả ngữ). Có thể nhận thấy những đề xuất trên đây chưa thật sự xuất phát từ bản chất cú pháp của câu và thành phần câu (từ ý nghĩa cú pháp và hình thức cú pháp tương ứng) và chính điều đó không cho phép phân biệt các biến thể khác nhau của một kiểu câu. Trần Ngọc Thêm, mặc dù, cũng sử dụng cặp đề - thuyết để phân tích câu nhưng khác với các tác giả khác, ông vẫn sử dụng các khái niệm truyền thống như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ. Tác giả cho rằng cặp chủ đề - thuật đề (cặp đề - thuyết) không đồng nhất với cặp chủ ngữ - vị ngữ cũng như cặp nêu - báo (cái đã biết - cái mới) [53, 48-50].
Với việc đưa các khái niệm đề - thuyết vào việc phân tích câu mà vẫn giữ lại các khái niệm truyền thống như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ,…, cách phân tích của Trần Ngọc Thêm đã gợi mở một hướng nghiên cứu phù hợp theo đó, cấu trúc của câu như là đơn vị đa bình diện có thể được xem xét đồng thời theo các bình diện khác nhau (bình diện cú pháp, bình diện ngữ nghĩa, bình diện giao tiếp). Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, V. Panfilov có cách nhìn nhận có nhiều điểm khác với cách nhìn nhận truyền thống. Xem xét vấn đề hệ thống thành phần tiếng Việt, V.Panfilov quan niệm “thành phần câu là phạm trù chức năng, đó là yếu tố có quan hệ hình thái - ngữ nghĩa với vị ngữ hoặc với toàn bộ câu” [39, tr.
Theo quan niệm này, hệ thống thành phần câu được V. Panfilov xác định gồm các thành phần tiêu biểu như chủ ngữ, trạng ngữ, định ngữ của vị ngữ và bổ ngữ. Vị ngữ mặc dù được coi là đỉnh cú pháp của câu nhưng không được xếp vào số các thành phần câu. Quan niệm trên đây của V.
Panfilov thể hiện 6 cách nhìn sâu sắc đối với vấn đề cú pháp nói chung, vấn đề thành phần câu nói riêng. Gần đây, trong Cuốn Thành phần câu tiếng Việt, Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp đã có những đề xuất mới mẻ nhằm giải quyết triệt để hơn vấn đề thành phần câu tiếng Việt [50]. Công trình này là một dấu mốc quan trọng trong việc giải quyết vấn đề thành phần câu tiếng Việt. Tuy nhiên, theo nhận xét của Nguyễn Văn Lộc và Nguyễn Mạnh Tiến, cách xác định, phân tích thành phần câu thiên hẳn về mặt hình thức của các tác giả, xét về mặt lý thuyết cũng như khả năng vận dụng vào thực tiễn phân tích cú pháp, cũng còn những hạn chế nhất định như Tomita Kenji đã nhận xét trong lời giới thiệu về công trình này [37, tr.
Lí thuyết kết trị và việc phân tích câu theo kết trị của từ a) Khái niệm kết trị (valence) của động từ Người khởi xướng lí thuyết kết trị là L. Tesniere, nhà ngôn ngữ học nổi tiếng người Pháp.Tesniere: “Có thể hình dung động từ ở dạng như nguyên tử với những cái móc có thể hút vào mình một số lượng nhất định diễn tố phù hợp với số lượng móc mà nó có để giữ bên mình các diễn tố này - số lượng các móc có ở động từ và số lượng diễn tố mà nó có khả năng chi phối lập thành bản chất của cái mà chúng tôi sẽ gọi là kết trị của động từ (valence verbe)” [18, 250]. Ở Việt Nam, lí thuyết kết trị lần đầu tiên đã được nghiên cứu có hệ thống trong chuyên luận Kết trị của động từ tiếng Việt của Nguyễn Văn Lộc. Trong công trình này, tác giả hiểu kết trị của động từ là khả năng của động từ tạo ra xung quanh mình các vị trí mở cần hoặc có thể làm đầy bởi các thành tố cú pháp (các thực từ) mang ý nghĩa bổ sung nhất định [37, 34].
b) Các công trình vận dụng lí thuyết kết trị vào việc phân tích câu về cú pháp 7 Sau khi ra đời, lí thuyết kết trị đã nhanh chóng được phổ biến và được áp dụng rộng rãi vào việc phân tích ngữ pháp nói chung, câu nói riêng. Những tư tưởng, khái niệm, thuật ngữ của lí thuyết kết trị xuất hiện phổ biến trong nhiều công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học nổi tiếng như: M. Helbig (1978), (Dẫn theo [37, 201]) Trong Việt ngữ học, lí thuyết kết trị và cách vận dụng lí thuyết này vào việc nghiên cứu ngữ pháp nói chung, câu nói riêng đã được đề cập đến trong các công trình của Cao Xuân Hạo [28], Nguyễn Thị Quy [42], Đinh Văn Đức ([26, Nguyễn Văn Lộc [37;64]), Nguyễn Văn Hiệp [29], Lâm Quang Đông [16] và một số tác giả khác. Tuy nhiên, ở hầu hết các tác giả này, lí thuyết kết trị và việc vận dụng vào phân tích ngữ pháp chủ yếu được đề cập khi xem xét, miêu tả vị từ hoặc mặt ngữ nghĩa (nghĩa biểu hiện) của câu.
Chỉ đến công trình của Nguyễn Mạnh Tiến (2016, Phân tích câu về cú pháp dựa vào thuộc tính kết trị của từ [51]), vấn đề vận dụng lí thuyết kết trị vào việc phân tích câu về cú pháp mới thực sự được đặt ra và được xem xét một cách có hệ thống và chuyên sâu. Tài liệu này cũng là một trong những cơ sở được dựa vào để triển khai một số nội dung quan trọng của luận văn. Tình hình nghiên cứu về câu phức trong tiếng Việt 1. Các quan niệm khác nhau trong việc phân loại câu Nhìn chung, khi phân loại câu theo mức độ phức tạp về cấu tạo, các tác giả đều dựa vào cụm chủ vị (mệnh đề).
Tuy nhiên, cách phân loại cụ thể ở các tác giả có sự khác nhau. Có thể chỉ ra ba cách phân loại chính sau đây: a) Phân loại dựa đơn thuần vào số lượng cụm chủ vị Theo cách này, câu được chia thành hai loại: câu đơn và câu phức. Câu đơn là câu chỉ có một cụm chủ vị. (6) Tôi đọc sách.
Câu phức là câu bao gồm hai cụm chủ vị trở lên. Ví dụ: (7) Nó ngủ, còn tôi đọc sách. 8 (8) Khi nó ngủ, tôi đọc sách. ([32, 273], [37, 206 - 207]) Ưu điểm của cách phân loại này là đơn giản, tiện lợi và cho phép vạch được ranh giới rõ ràng, dứt khoát giữa câu đơn và câu phức.
Tuy nhiên, những tác giả không ủng hộ giải pháp này cho rằng cách này có hạn chế là chưa tính đến vai trò của các cụm chủ vị (sự phân biệt cụm nòng cốt, cụm không nòng cốt). b) Phân loại dựa vào số lượng cụm chủ vị nòng cốt Cụm chủ vị nòng cốt được hiểu là cụm chủ vị không bị bao chứa trong một cụm từ khác, tức là không làm thành phần của câu hay của từ tổ [37, 525]. Theo cách này, câu cũng được chia thành hai loại: câu đơn (câu đơn giản) và câu phức (câu phức hợp). Câu đơn giản là câu chỉ có một cụm chủ vị nòng cốt.
(10) Người anh cần gặp đã đến. (11) Tôi ngỡ nó đến. Câu phức hợp là câu có từ hai cụm chủ vị nòng cốt trở lên. Ví dụ: (12) Trống đánh xuôi, kèn thổi ngược.
(13) Vì tên Dậu là thân nhân của hắn cho nên chúng con bắt phải nộp thay. Ví dụ: (14) Tôi tin rằng kế hoạch chúng ta đề ra sẽ hoàn thành đúng thời hạn. (15) Lí tưởng là cái vì nó mà người ta sống, dưới ánh sáng của nó, người ta thấy ý nghĩa cuộc đời. c) Phân loại dựa vào cả số lượng cụm chủ vị lẫn số lượng cụm chủ vị nòng cốt 9 Theo cách này, câu được chia thành ba loại: câu đơn, câu phức và câu ghép [37, 289 - 302].
Câu đơn là câu chỉ có một cụm chủ vị. Ví dụ: (16) Bé ngủ. Câu phức là câu gồm từ hai cụm chủ vị trở lên trong đó chỉ có một cụm chủ vị nòng cốt. Ví dụ: (17) Cuốn sách tôi vừa mua rất hay.
(18) Tôi tin rằng nó sẽ đến. Câu ghép là câu gồm từ hai cụm chủ vị nòng cốt trở lên. Ví dụ: (19) Nếu tục ngữ thiên về trí tuệ thì ca dao lại thiên về tình cảm. (20) Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị.
Tuy vậy, ở cách phân loại này cũng có những hạn chế nhất định (thể hiện ở cách dùng thuật ngữ cũng như ở việc xác định khái niệm cụm chủ vị nòng cốt như sẽ được chỉ ra ở dưới đây). Bên cạnh ba cách phân loại phổ biến và khá quen thuộc trên đây, còn có một vài cách phân loại trong đó có sự điều chỉnh, bổ sung nhất định đối với một trong những cách phân loại đã giới thiệu trên đây. Chẳng hạn, ở cách phân loại của Hoàng Trọng Phiến, bên cạnh câu đơn (câu có một cụm chủ vị hay một trung tâm tính vị ngữ [40, 104]) và câu ghép (câu gồm hai cụm chủ vị hay hai trung tâm tính vị ngữ trở lên có tính độc lập tương đối [40, 205]) còn có câu trung gian (câu có cụm chủ vị làm thành phần câu [40, 189 - 191]). Theo cách phân loại của Nguyễn Văn Hiệp, câu cũng được chia thành: câu đơn, câu phức, câu ghép.
Câu đơn được hiểu là những câu chỉ có một cụm chủ vị nòng cốt (các cụm chủ vị còn lại nếu có chỉ là thành phần không nòng cốt như định ngữ, trạng ngữ). Ví dụ: (21) Tôi biết nó. 10 (22) Người mà chúng ta vừa gặp là nhà văn. Câu phức là câu có ít nhất một trong những thành phần nòng cốt (các thành phần tham gia nòng cốt câu như chủ ngữ, bổ ngữ, vị ngữ) có dạng là kết cấu chủ vị.