Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN, THỰC TIỄN 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu về chu tố của động từ trong tiếng Việt Chu tố của động từ được nói đến ở đây được nhìn từ góc độ lí thuyết kết trị và là thành tố cú pháp vừa có sự tương ứng nhất định với trạng ngữ (gia ngữ, bổ ngữ của câu, thành phần tình huống của câu), vừa có sự tương ứng với trạng ngữ hay bổ ngữ tự do của động từ theo cách hiểu truyền thống. Đây là một trong những thành phần cú pháp xuất hiện phổ biến trong câu và từ lâu đã được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt theo quan niệm truyền thống với các tên gọi như trạng ngữ, gia ngữ, bổ ngữ của câu, thành phần tình huống và bổ ngữ tự do của vị từ.
Trong việc nghiên cứu về trạng ngữ (mà theo quan niệm truyền thống được coi là thành phần phụ bổ sung cho cụm chủ vị nòng cốt của câu), một số vấn đề được giải quyết khá tốt và đạt được sự nhất trí tương đối cao như: vai trò cú pháp của trạng ngữ trong câu, đặc điểm ý nghĩa, hình thức của trạng ngữ. Tuy nhiên, cũng còn những vấn đề chưa được giải quyết thỏa đáng. Dưới đây, chúng tôi xin nêu khái quát tình hình nghiên cứu về trạng ngữ và bổ ngữ tự do của vị từ (theo cách hiểu truyền thống) trong tiếng Việt. Về bản chất cú pháp của chu tố (trạng ngữ của câu, bổ ngữ tự do của vị từ) a.
Theo quan niệm truyền thống: Hầu như các tác giả Việt Nam theo khuynh hướng truyền thống đều cho rằng trạng ngữ là thành phần thứ yếu hay thành phần phụ của câu có quan hệ cú pháp với cả nòng cốt câu. Nguyễn Kim Thản cho rằng: "trạng ngữ là thành phần thứ yếu của câu biểu thị các ý nghĩa về thời điểm, địa điểm, nguyên nhân, mục đích, phương tiện, hay tình thái” [45, 565]. Phân biệt trạng ngữ với bổ ngữ tự do của vị từ, ông cho rằng trạng ngữ “là thành phần phụ thêm vào cho cả câu…sự tồn tại của nó không phụ thuộc vào một từ nào, cũng không phụ thuộc vào loại hay tiểu loại của từ nào” [45, 521]; còn "bổ ngữ thời hạn thì phụ thuộc vào vị từ” [45, 565]. Hoàng Trọng Phiến cũng coi trạng ngữ "là thành phần thứ yếu của câu, có ý nghĩa địa điểm, không gian, thời gian, nguyên nhân, mục đích” [39, 124].
3 Tập thể các tác giả (Trung tâm Khoa học xã hội Việt Nam) gọi trạng ngữ là "thành phần tình huống" và cho rằng "thành phần này có tác dụng bổ sung ý nghĩa cho cả nòng cốt câu” và "nó là một thành phần thứ yếu so với các thành phần chủ yếu trong nòng cốt” [57, 239]. Diệp Quang Ban gọi trạng ngữ là "bổ ngữ của câu" và quan niệm "bổ ngữ của câu là những thành phần phụ của câu nêu lên cái hoàn cảnh trong đó diễn ra sự việc nói ở nòng cốt câu” [2, 180]. Chủ trương phân biệt thành phần phụ của câu với thành phần phụ của từ, ông cho rằng: "thành phần phụ của câu có tính chất tự lập tương đối về mặt ngữ pháp, tức là nó không phụ thuộc về mặt cú pháp vào yếu tố ngôn ngữ nào trong nòng cốt mà có quan hệ cú pháp với toàn bộ nòng cốt câu” [2, 175]. Hai tác giả Bùi Minh Toán - Nguyễn Thị Lương trong cuốn "Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt" cho rằng "trạng ngữ là thành phần phụ của câu, biểu thị các ý nghĩa thời gian, nơi chốn, phương tiện, cách thức, mục đích, nguyên nhân…của sự tình được nêu ra trong câu” [56, 122].
"Cấu tạo của trạng ngữ khá đa dạng, nó có thể là một từ, một cụm từ, tổ hợp từ” [56, 126]. Trạng ngữ với tư cách là thành phần phụ của câu, có quan hệ cú pháp và ý nghĩa với nòng cốt câu như quan niệm trên đây được phân biệt với bổ ngữ tự do (bổ tố, trạng tố) của vị từ. Các tác giả đều cho rằng việc phân biệt thành phần phụ của câu nói chung, trạng ngữ nói riêng, với thành phần phụ của từ, trong đó có bổ ngữ tự do của vị từ là vấn đề phức tạp và sự phân biệt này không phải bao giờ cũng "thật rạch ròi được”. Thực tế cũng cho thấy đến nay, hầu như cũng chưa có tác giả nào đưa ra được sự phân biệt rạch ròi, thật sự có sức thuyết phục hai kiểu thành tố cú pháp này.
Theo Nguyễn Văn Hiệp, các tiêu chí cho phép phân biệt trạng ngữ với các thành tố phụ thuộc cấu trúc bậc dưới câu của vị từ là: + Quan hệ phụ thuộc với nòng cốt câu. + Khả năng cải biến vị trí mà không làm thay đổi quan hệ giữa các thành tố còn lại trong câu. Tác giả cho rằng có thể dùng thủ pháp chen một thành tố đồng vị đã xác định chức năng để thấy được quan hệ phụ thuộc vào nòng cốt câu của trạng ngữ và phân biệt nó với bổ tố tự do của vị từ. Cùng với thủ pháp chen một yếu tố đồng vị, thủ pháp cải biến vị trí cũng được tác giả sử dụng để chỉ ra sự khác biệt giữa trạng ngữ và bổ tố của vị từ [21, 209-222].
Các quan niệm khác: Ngoài quan niệm phổ biến trên, cần phải kể đến ý kiến của tác giả V.Panfilov trong cuốn Cơ cấu ngữ pháp tiếng Việt. Tác giả cho rằng: “trạng ngữ là yếu tố mở rộng tự do của vị ngữ, có ý nghĩa sự kiện và có khả năng thay thế bằng mệnh đề phụ” [38, 315]. Tác giả Nguyễn Mạnh Tiến cũng cho rằng "trạng ngữ chính là thành phần phụ của câu thể hiện kết trị tự do của vị từ (hoặc trạng ngữ là chu tố của vị từ)… Mối quan hệ cú pháp giữa trạng ngữ với vị từ (vị ngữ) được khẳng định bởi sự có mặt đồng thời của cả mối quan hệ ý nghĩa lẫn mối quan hệ hình thức giữa chúng (khả năng dùng độc lập của tổ hợp do chúng tạo thành)” [54, 60]. Nhận xét về quan niệm truyền thống đối với trạng ngữ, tác giả Nguyễn Mạnh Tiến còn cho rằng "việc xác định nội dung và hình thức của trạng ngữ (có quan hệ cú pháp với nòng cốt của câu, có tính biệt lập về hình thức và khả năng cải biến vị trí) cũng như việc dựa vào những đặc điểm đó để phân biệt nó với bổ ngữ tự do của vị từ, qua đó, khẳng định sự đối lập về bản chất giữa hai kiểu thành tố cú pháp này mặc dù có những cơ sở nhất định nhưng nhìn chung chưa được luận giải một cách thật sự có sức thuyết phục dựa vào một quan niệm rõ ràng, nhất quán về quan hệ cú pháp và thành phần cú pháp của câu” [54, 51].
Qua các quan niệm trên, có thể thấy về tính chất của mối quan hệ cú pháp giữa trạng ngữ với bộ phận còn lại của câu, đến nay, có hai quan niệm chính: 1/ coi trạng ngữ là thành phần phụ của câu có quan hệ cú pháp với cả nòng cốt câu; 2/ coi trạng ngữ là thành phần phụ mở rộng tự do của vị ngữ hay vị từ. Theo tác giả Nguyễn Văn Lộc, để xác định bản chất của mối quan hệ cú pháp giữa trạng ngữ và các thành tố khác của câu “cần phải dựa vào khái niệm quan hệ cú pháp và cách xác định sự có mặt của mối quan hệ cú pháp giữa các từ (cụm từ) trong câu’’ (theo đó, “hai từ, cụm từ được coi là có quan hệ cú pháp với nhau nếu giữa chúng có thể xác định một kiểu quan hệ ngữ nghĩa nhất định và ngữ đoạn chứa chúng có khả năng hoạt động độc lập hoặc tư cách biến thể tỉnh lược của câu”)[30, 343]. Với cách hiểu về quan hệ cú pháp, cách xác định sự có mặt của mối quan hệ cú pháp giữa các từ như đã chỉ ra, có cơ sở để cho rằng trạng ngữ, về bản chất cú pháp, là thành tố phụ không bắt buộc của vị ngữ (vị từ) hoặc "là yếu tố mở rộng tự do của vị ngữ” [30, 343]. Cụ thể: Về nội dung, trạng ngữ đều bổ sung cho vị ngữ hay vị từ một 5 ý nghĩa nhất định.
Về hình thức, trạng ngữ có thể cùng với vị ngữ hay vị từ tạo thành một tổ hợp dùng độc lập hoặc dùng với tư cách là biến thể tỉnh lược của câu [30, 346]. Chúng tôi cho rằng đây là quan niệm có cơ sở. Về đặc điểm nội dung của chu tố (trạng ngữ truyền thống) Về đặc điểm nội dung của chu tố (trạng ngữ), các tác giả có ý kiến tương đối thống nhất. Tác giả Nguyễn Văn Hiệp cho rằng: “…trạng ngữ biểu thị những ý nghĩa về không gian, thời gian, mục đích, nguyên nhân, phương tiện…cho sự tình được biểu đạt trong câu” [21, 206].
Nhận xét về mối quan hệ ngữ nghĩa giữa thành phần phụ của câu (trong đó có trạng ngữ) với các từ ngữ còn lại của câu, Diệp Quang Ban viết: "Về mặt nghĩa, bộ phận nằm ngoài nòng cốt này có thể liên hệ rõ rệt với một yếu tố nào đó trong nòng cốt câu” [3, 177]. Về ý nghĩa cụ thể của trạng ngữ, tác giả xác định các kiểu chính như: trạng ngữ không gian, thời gian, tình hình, nguyên nhân, mục đích, nhượng bộ…[3, 179]. Nguyễn Kim Thản cũng cho rằng: "Trạng ngữ là thành phần thứ yếu của câu biểu thị các ý nghĩa thời điểm, địa điểm, nguyên nhân, mục đích, phương tiện hay tình thái” [45, 565]. Tác giả còn chỉ rõ: "Khi đặt ở cuối câu, trạng ngữ có tác dụng miêu tả hoàn cảnh tiến hành của hoạt động hay trạng thái biểu thị trong bộ phận vị ngữ” [45, 569] hoặc "Trạng ngữ thời gian thường đặt ở đầu câu.
Nó có thể biểu thị thời điểm cụ thể của đặc trưng (do vị ngữ biểu thị)…” [45, 565]. Đề cập đến đặc điểm nội dung của trạng ngữ, Nguyễn Văn Lộc cho rằng: Về nội dung, trạng ngữ có ba đặc điểm chính: tính phụ thuộc, tính không bắt buộc (tự do) và ý nghĩa tình trạng, hoàn cảnh (chỉ không gian, thời gian, nguyên nhân, mục đích, công cụ, tính chất, cách thức…) [30, 348]. Về đặc điểm hình thức của chu tố (trạng ngữ truyền thống) a. Về cấu tạo (cách biểu hiện) Hầu hết các tác giả đều cho rằng trạng ngữ có thể được biểu hiện bằng danh từ (cụm danh từ) hoặc vị từ (cụm vị từ, cụm chủ vị).
Tác giả Nguyễn Văn Lộc cho rằng: “Trạng ngữ được biểu hiện bằng hai hình thức chủ yếu là danh từ (cụm danh từ) và vị từ (cụm vị từ, cụm chủ vị)” [30, 351].