ĐẶT VẤN ĐỀ Thuốc đóng vai trò rất quan trọng và thường là yếu tố quyết định đến hiệu quả điều trị. Do đó xây dựng DMT sử dụng tại Bệnh viện là một nhiệm vụ trọng tâm được đặt ra cho HĐT&ĐT của mỗi bệnh viện. Để phản ánh hiệu quả của việc xây dựng DMT và hoạt động mua sắm cũng như có cái nhìn tổng thể về việc sử dụng thuốc tại Bệnh viện cần tiến hành phân tích cơ cấu DMT đã sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định. DMT cần phải sát nhất về nhu cầu sử dụng thể hiện qua công tác xây dựng DMT của bệnh viện và cũng phải đảm bảo được cung ứng thường xuyên, đủ thuốc cho nhu cầu điều trị.
Từ đó tạo ra thuận lợi và hiệu quả tối đa cho người dược sỹ làm công tác cung ứng thuốc trong Bệnh viện. Ở Yên Bái cũng như nhiều tỉnh thành khác tại Việt Nam, việc sử dụng thuốc nhằm mục đích an toàn, hiệu quả, hợp lý, tiết kiệm là một trong những nội dung quan trọng trong quản lý. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên Bái là bệnh viện tuyến cuối của tỉnh, đang được Bộ Y tế đưa vào đề án xây dựng và phát triển thành Bệnh viện vùng của khu vực Tây Bắc. Số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị không ngừng gia tăng, các kỹ thuật mới tiên tiến thường xuyên được áp dụng do đó vấn đề lựa chọn và sử dụng thuốc càng cần được quan tâm hàng đầu để đáp ứng cho người bệnh cũng như phục vụ tốt các dịch vụ kỹ thuật mới được triển khai.
Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu về DMT sử dụng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên Bái trong những năm gần đây. Vì vậy, để có cái nhìn tổng quát về hoạt động xây dựng và sử dụng thuốc tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên Bái, đề tài "Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên Bái năm 2021” được tiến hành với 02 mục tiêu: 1. Mô tả cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên Bái năm 2021. Phân tích danh mục thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh 1 Yên Bái năm 2021 theo phương pháp ABC, VEN.
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần phản ánh được thực trạng hoạt động xây dựng và sử dụng thuốc của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên Bái, nhằm đưa ra những đề xuất góp phần nâng cao hiệu quả điều trị cho người bệnh, đảm bảo an toàn, hiệu quả và kinh tế. Khái niệm danh mục thuốc Theo Hội đồng Thuốc và Điều trị - cẩm nang hướng dẫn thực hành (Drug and therapeutics committees - A practical guide) do WHO ban hành năm 2003 có định nghĩa: “Danh mục thuốc (formulary list) là danh sách các thuốc được phê duyệt để sử dụng tại cơ sở chăm sóc sức khỏe cụ thể” [13]. Một DMT tốt sẽ giúp loại bỏ được các thuốc không an toàn và kém hiệu quả, giảm được chi phí điều trị và số ngày nằm viện của bệnh nhân. Ngoài ra giúp giảm số lượng và chi phí mua thuốc, từ đó giảm được chi phí cho Quỹ bảo hiểm y tế và chi phí của người bệnh.
Các văn bản pháp lý liên quan đến đề tài nghiên cứu và một số phƣơng pháp phân tích sử dụng thuốc 1. Các văn bản pháp lý liên quan đến đề tài nghiên cứu - Luật Dược 105/2016/QH13. - Thông tư 22/2011/TT-BYT Quy định tổ chức và hoạt động của khoa Dược bệnh viện. - Thông tư 23/2011/TT-BYT Hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh.
- Thông tư 21/2013/TT-BYT Quy định tổ chức hoạt động của Hội đồng Thuốc và Điều trị trong bệnh viện. - Thông tư 05/2015/TT-BYT Ban hành danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế. - Thông tư 19/2018/TT-BYT Ban hành danh mục thuốc thiết yếu. - Thông tư 30/2018/TT-BYT Ban hành danh mục thuốc và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế.
- Thông tư 03/2019/TT-BYT Ban hành danh mục thuốc SXTN đáp ứng 3 nhu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp. Một số phương pháp phân tích sử dụng thuốc Một số công cụ để đánh giá thực trạng vấn đề sử dụng thuốc trong bệnh viện hiện nay là phương pháp phân tích sử dụng thuốc theo nhóm điều trị, phân tích ABC, phân tích VEN, phân tích ma trận ABC/VEN [3]. Phương pháp phân tích cơ cấu thuốc sử dụng theo nhóm tác dụng - Khái niệm: Phân tích nhóm điều trị là phương pháp phân tích việc sử dụng thuốc dựa vào đánh giá số lượng sử dụng và giá trị tiền thuốc đã sử dụng của các nhóm điều trị. - Vai trò và ý nghĩa: Giúp xác định các nhóm điều trị có lượng tiêu thụ, chi phí cao nhất; Trên cơ sở thông tin về MHBT, xác định những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý, xác định những thuốc bị lạm dụng hoặc mức tiêu thụ không mang tính đại diện; Giúp HĐT&ĐT lựa chọn các thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và lựa chọn thuốc cho các phương pháp điều trị thay thế.
Phương pháp phân tích ABC - Khái niệm: Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong chi phí dành cho thuốc của bệnh viện [3]. - Vai trò và ý nghĩa của phân tích ABC Cho thấy những thuốc được sử dụng thay thế với lượng lớn mà có chi phí thấp trong danh mục hoặc có sẵn trên thị trường. Thông tin này được sử dụng để: + Lựa chọn những thuốc thay thế có chi phí điều trị thấp hơn; + Tìm ra những liệu pháp điều trị thay thế; 4 + Thương lượng với nhà cung cấp để mua được thuốc với giá thấp hơn; + Lượng giá mức độ tiêu thụ thuốc, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng và từ đó phát hiện ra những vấn đề chưa hợp lý trong sử dụng thuốc bằng cách so sánh lượng thuốc tiêu thụ với MHBT; + Xác định phương thức mua các thuốc không có trong DMT thiết yếu của bệnh viện. Phân tích ABC có thể áp dụng phân tích các số liệu tiêu thụ thuốc cho chu kỳ trên 01 năm hoặc ngắn hơn.
Phương pháp này cũng có thể ứng dụng cho một đợt đấu thầu hoặc nhiều đợt đấu thầu. Sau khi hoàn thành phân tích ABC, các thuốc đặc biệt trong nhóm A cần phải được đánh giá lại và xem xét việc sử dụng các thuốc không có trong danh mục và thuốc đắt tiền, trên cơ sở đó lựa chọn những phác đồ điều trị có hiệu lực tương đương nhưng giá thành rẻ hơn. - Ưu điểm là giúp xác định xem phần lớn ngân sách được chi trả cho những thuốc nào còn nhược điểm là không cung cấp được đủ thông tin để so sánh những thuốc có hiệu lực khác nhau. Phương pháp phân tích VEN - Khái niệm: Phân tích VEN là phương pháp giúp xác định ưu tiên cho hoạt động mua sắm và tồn trữ thuốc trong bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để mua toàn bộ các loại thuốc như mong muốn.
Trong phân tích VEN, các thuốc được phân loại 3 nhóm cụ thể như sau: + Thuốc V (Vital drugs): là thuốc sống còn dùng trong trường hợp cấp cứu hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện. + Thuốc E (Essential drugs): là thuốc thiết yếu dùng trong các trường hợp bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong MHBT của bệnh viện. 5 + Thuốc N (Non-Essential drugs): là thuốc không thiết yếu dùng trong các trường hợp bệnh nhẹ, bệnh có thể tự khỏi, có thể bao gồm các thuốc mà hiệu quả điều trị còn chưa cao được khẳng định rõ ràng hoặc giá thành cao không tương ứng với lợi ích lâm sàng của thuốc. Phân tích VEN muốn áp dụng được cần phải có sự đồng thuận cao của các thành viên trong HĐT&ĐT, có sự khác nhau về mức độ cần thiết giữa bệnh viện chuyên khoa với đa khoa, giữa các bệnh viện đa khoa với nhau (các đầu ngành chuyên khoa khác nhau).
Phương pháp phân tích ABC/VEN Sau khi thực hiện phân tích ABC và phân loại VEN, cần kết hợp 2 phương pháp phân tích ABC, VEN tạo thành ma trận ABC/VEN nhằm tìm ra mối quan hệ giữa các thuốc có chi phí cao với mức độ ưu tiên. Trong ma trận ABC/VEN cần chỉ ra các thuốc phân nhóm AN (thuốc không thiết yếu) nhưng có chi phí cao để kiểm soát sử dụng. Việc phân tích ABC/VEN đã được đưa vào Thông tư số 21/2013/TT- BYT ban hành ngày 08/8/2013 của Bộ Y tế là một trong những phương pháp phân tích để phát hiện vấn đề sử dụng thuốc và là bước đầu tiên trong quy trình xây dựng DMT bệnh viện, cung cấp cho HĐT&ĐT dữ liệu quan trọng để quyết định thuốc nào nên loại khỏi DMT, thuốc nào cần thiết và thuốc nào ít quan trọng hơn [3]. Thực trạng sử dụng thuốc tại các cơ sở khám chữa bệnh 1.
Tình hình sử dụng thuốc hóa dược và Thuốc cổ truyền, thuốc từ dược liệu Hầu hết các bệnh viện trong nước đã xây dựng DMT theo căn cứ DMT thiết yếu sử dụng tại cơ sở khám chữa bệnh hiện hành [5]. Tuy nhiên, từ kết quả phân tích DMT của các bệnh viện còn nhiều bất cập. Thuốc đắt tiền, thuốc ngoại nhập, thuốc biệt dược thường chiếm tỷ lệ cao trong DMT nhất là các bệnh viện lớn. Đặc biệt thuốc kháng sinh luôn chiếm tỷ lệ cao, nguyên 6 nhân là do việc sử dụng tràn lan, lạm dụng kháng sinh phổ rộng, điều trị bao vây dẫn đến gia tăng các tác dụng không mong muốn và tình trạng kháng kháng sinh.
Hiện nay thuốc kháng sinh đang được lựa chọn như một giải pháp phổ biến. WHO vẫn khuyến cáo thực trạng kê đơn kháng sinh đáng lo ngại trên toàn cầu tới mức trung bình 30-60% bệnh nhân được kê thuốc kháng sinh và tỷ lệ này cao gấp đôi so với nhu cầu lâm sàng. Theo đánh giá chuẩn của WHO đã có đến ½ số kháng thuốc kháng sinh sử dụng thừa. Số thuốc được kê không cần thiết này làm tăng chi phí y tế, tăng khả năng xuất hiện tác dụng phụ của thuốc và tình trạng kháng kháng sinh [13].