CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. CÁC QUY ĐỊNH VỀ SỬ DỤNG THUỐC TRONG CƠ SỞ KHÁM CHỮA BỆNH Quy định tổ chức và hoạt động khoa Dược bệnh viện (Thông tư 22/2011/TT-BYT ngày 10/06/2011) Khoa Dược có vai trò chủ đạo, đầu mối trong việc quản lý sử dụng thuốc tại bệnh viện: Lập kế hoạch cung ứng thuốc bảo đảm đủ số lượng, chất lượng cho nhu cầu điều trị và thử nghiệm lâm sàng nhằm đáp ứng yêu cầu chẩn đoán, điều trị và các yêu cầu chữa bệnh khác (phòng chống thiên tai, dịch bệnh, thảm hoạ). Quy định về tổ chức và hoạt động của hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện (Thông tư 21/2013/TT-BYT 08/08/2013). Hội đồng có chức năng tư vấn cho giám đốc bệnh viện về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị, thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện.
Hướng dẫn thực hiện danh mục thuốc tân dược thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT, (Thông tư 30/2018/TT-BYT ngày 30/10/2018) các thuốc hay các hoạt chất được sắp xếp theo 27 nhóm lớn, theo mã ATC. Quy định về việc xây dựng DMT thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT sử dụng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải căn cứ DMT và phân hạng BV; nhu cầu điều trị và khả năng chi trả của BHYT, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh xây dựng DMT sử dụng của pháp luật về đấu thầu và lựa chọn thuốc để mua sắm, sử dụng theo nguyên tắc: ưu tiên lựa chọn thuốc generic, thuốc đơn chất, thuốc sản xuất trong nước. Thông tư 05/2015/TT- BYT ngày 17/03/2015 của Bộ Y tế về việc Ban hành danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT. Danh mục thuốc được sắp xếp thành 11 nhóm theo y lý y học cổ truyền; Danh mục vị thuốc bao gồm 349 vị thuốc từ cây, con, khoáng vật làm thuốc được sắp xếp thành 30 nhóm theo y lý y học cổ truyền.
3 Ban hành danh mục thuốc thiết yếu (Thông tư 19/2018/TT-BYT ngày 30/08/2018). Thông tư qui định nguyên tắc xây dựng, tiêu chí lựa chọn thuốc thiết yếu bao gồm: Thuốc hoá dược, vắc xin, sinh phẩm và thuốc đông y, thuốc từ dược liệu. Thông tư có hiệu lực từ 15 tháng 10 năm 2018. Ban hành danh mục thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung ứng (Thông tư 03/2019/TT-BYT ngày 28/3/2019) theo nguyên tắc: Danh mục được xây dựng trên cơ sở các thuốc sản xuất tại các cơ sở sản xuất trong nước đã được cấp giấy đăng ký lưu hành, đáp ứng yêu cầu phòng bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở y tế theo tiêu chí kỹ thuật của thuốc, có giá thuốc hợp lý và có khả năng đảm bảo cung cấp cho các cơ sở y tế trên cả nước.
Thông tư 23/2011/TT- BYT ngày 10/06/2011 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỬ DỤNG THUỐC 1. Phương pháp phân tích cơ cấu thuốc sử dụng theo nhóm tác dụng. - Phân tích nhóm tác dụng dược lý là phương pháp phân tích việc sử dụng thuốc dựa vào đánh giá số lượng sử dụng và giá trị tiền thuốc của các nhóm có cùng tác dụng dược lý.
- Giúp xác định các nhóm thuốc có cùng tác dụng dược lý có lượng tiêu thụ, chi phí cao nhất. - Trên cơ sở thông tin về mô hình bệnh tật, xác định những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý, xác định những thuốc bị lạm dụng hoặc mức tiêu thụ không mang tính đại diện. - Giúp HĐT & ĐT lựa chọn các thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và lựa chọn thuốc cho các liệu pháp điều trị thay thế. Phương pháp phân tích ABC Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc 4 tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn nhất trong chi phí dành cho mua thuốc bệnh viện [3].
Phương pháp phân tích VEN. a/ Căn cứ phân loại VEN Phân tích VEN là phương pháp giúp xác định ưu tiên cho hoạt động mua sắm và tồn trữ thuốc trong bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để mua toàn bộ các loại thuốc như mong muốn [3]. * Trong phân tích VEN, các thuốc được phân chia làm 3 nhóm cụ thể như sau: + Thuốc V: Là thuốc sống còn dùng trong trường hợp cấp cứu hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện. + Thuốc E: Là thuốc thiết yếu dùng trong các trường hợp bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh tật của bệnh viện.
+ Thuốc N: Là thuốc không thiết yếu dùng trong các trường hợp bệnh nhẹ, bệnh có thể tự khỏi, có thể bao gồm các thuốc mà hiệu quả điều trị còn chưa cao được khẳng định rõ ràng hoặc giá thành cao không tương ứng với lợi ích lâm sàng của thuốc. * Phân nhóm các thuốc V, E, N trong danh mục thuốc đã sử dụng năm 2021 theo phân loại của HĐT & ĐT của bệnh viện. Các bước phân tích VEN gồm 6 bước như sau: Bước 1: Từng thành viên trong hội đồng sắp xếp các nhóm thuốc theo 3 loại V, E, N. Bước 2: Kết quả phân loại của các thành viên được tập hợp và thống nhất, sau đó hội đồng sẽ.
Bước 3: Lựa chọn và loại bỏ những thuốc phương án điều trị trùng lặp. 5 Bước 4: Xem xét những thuốc thuộc nhóm N và hạn chế mua hoặc loại bỏ những thuốc này trong trường hợp không còn nhu cầu điều trị. Bước 5: Xem lại số lượng mua dự kiến mua các thuốc nhóm V, E trước nhóm N và đảm bảo thuốc nhóm V, E có một lượng dự trữ an toàn. Bước 6: Giám sát đơn đặt hàng và lượng tồn kho của nhóm V, E chặt chẽ hơn nhóm N.
Tính tổng số và tỷ lệ phần trăm số lượng thuốc và giá trị sử dụng của các nhóm thuốc V, E, N. b/ Vai trò, ý nghĩa - Phương pháp phân tích VEN giúp cho việc lựa chọn những thuốc cần ưu tiên việc lựa chọn mua thuốc và sử dụng trong hệ thống, quản lý hàng tồn kho và xác định sử dụng thuốc với giá cả phù hợp cụ thể. - Việc lựa chọn thuốc: Các thuốc V và E nên được đưa ra ưu tiên lựa chọn. Đặc biệt khi nguồn ngân sách hạn hẹp.
- Về mua sắm: Các thuốc V và E cần phải được kiểm soát thường xuyên khi đặt hàng và dự trữ thường xuyên các thuốc này và giảm dự trữ những thuốc không cần thiết. Nếu ngân sách không hạn hẹp thì việc sử dụng phân tích VEN được đảm bảo số lượng các thuốc V và E phải được mua đủ trước tiên. Sau khi tiến hành phân tích thì sẽ lựa chọn nhà cung cấp đáng tin cậy để mua các thuốc thiết yếu. Đối với nhà cung cấp mới thì có thể bằng cách ký kết hợp đồng các thuốc không thiết yếu.
- Việc sử dụng thuốc từ kết quả phân tích VEN giúp đưa ra các kiến nghị sử dụng thuốc V và E, xem xét lại vấn đề sử dụng quá nhiều các thuốc không thiết yếu. Phương pháp phân tích ma trận ABC/VEN. Khi phân tích VEN đã được thực hiện thì nên kết hợp với phân tích ABC để xác định mối quan hệ giữa các thuốc chi phí cao nhưng có mức độ ưu tiên 6 thấp. Đặc biệt là hạn chế hoặc xóa bỏ các thuốc nhóm N, nhưng lại có chi phí cao ở nhóm A.
Trong phân tích ABC sự kết hợp phân tích VEN và ABC sẽ tạo thành ma trận ABC/VEN.1: Ma trận ABC/VEN Nhóm V E N A AV AE AN B BV BE BN C CV CE CN Chú thích: Chữ cái đầu tiên biểu thị trong phân tích ABC, chữ cái thứ hai biểu thị phân tích VEN. Việc phân tích ABC/VEN đã được đưa vào thông tư số 21/2013/TT- BYT ban hành ngày 08/08/2013 của Bộ Y tế là một trong những phương pháp phân tích để phát hiện vấn đề sử dụng thuốc và là bước đầu tiên trong quy trình xây dựng DMTBV, cung cấp cho HĐT & ĐT dữ liệu quan trọng để quyết định thuốc nào nên loại khỏi DMT, thuốc nào cần thiết và thuốc nào ít quan trọng hơn. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC TẠI CÁC CƠ SỞ KHÁM CHỮA BỆNH HIỆN NAY 1. Cơ cấu danh mục theo phân loại thuốc hóa dược và Thuốc dông y, thuốc từ dược liệu.
Thuốc sử dụng tại các Trung tâm Y tế được chia làm 2 nhóm: Thuốc hóa dược và thuốc đông y, thuốc từ dược liệu. Kết quả phân tích tại Trung tâm Y tế huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên năm 2019, nhóm Thuốc hóa dược chiếm 71,63% giá trị sử dụng, nhóm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu chiếm tỷ lệ 28,37% tổng giá trị sử dụng [19]; Trung tâm Y tế huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình năm 2019, nhóm thuốc hóa dược chiếm 84,50% giá trị sử dụng, nhóm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu chiếm tỷ lệ 15,50% tổng giá trị sử dụng [21]; Trung tâm Y tế huyện thành phố Hưng Yên tỉnh Hưng Yên năm 2019, nhóm 7 Thuốc hóa dược chiếm 90,50% giá trị sử dụng, nhóm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu chiếm tỷ lệ 9,50% tổng giá trị sử dụng [22]. Thực trạng sử dụng thuốc theo nhóm thuốc tác dụng dược lý Tùy theo mô hình bệnh tật của từng bệnh viện mà nhu cầu sử dụng các nhóm thuốc là khác nhau. Nhóm thuốc tim mạch, luôn chiếm tỉ trọng cao trong danh mục thuốc sử dụng.
Tại Trung tâm Y tế thành phố Hưng Yên năm 2019 cơ cấu nhóm tim mạch chiếm 29,6%[22]. Tại Trung tâm Y tế huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình năm 2019 là 10,24% tổng giá trị sử dụng [21]. Qua khảo sát của đa số bệnh viện nhóm thuốc Hormon và các thuốc tác động vào hệ nội tiết tại một số bệnh viện các nghiên cứu như sau: Trung tâm Y tế thành phố Hưng Yên năm 2019 có tỷ lệ nhóm này chiếm 31,37% [22], Trung tâm Y tế huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình năm 2019 là 22,72% giá trị sử dụng [27], Bệnh viện đa khoa Vân Đình thành phố Hà Nội năm 2018 là 11,8% tổng giá trị sử dụng [12]. Nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn cũng chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu.
Trung tâm Y tế thành phố Hưng Yên năm 2019 là 11,57% giá trị sử dụng [22]; Bệnh viện đa khoa huyện Phù Yên tỉnh Sơn La năm 2018 là 51,8% tổng giá trị sử dụng [15]; Trung tâm Y tế huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên năm 2019 chiếm 56,93% giá trị sử dụng [19].