ĐẶT VẤN ĐỀ Thuốc được xem là một yếu tố thiết yếu và chiến lược trong bất kỳ hệ thống y tế nào trên Thế giới. Trong các cấu trúc y tế công cộng, thuốc sẽ tạo niềm tin trong việc cung cấp dịch vụ y tế cho người dân. Khi các loại thuốc có sẵn, giá cả phù hợp, chất lượng tốt và được sử dụng hợp lý, chúng sẽ giải quyết được nhiều vấn đề sức khỏe một cách hiệu quả [1]. Chi tiêu toàn cầu cho thuốc liên tiếp tăng mạnh trong những năm gần đây.
Vào năm 2022, khoảng 1,48 nghìn tỉ đô la Mỹ (USD) đã được chi cho thuốc, trong khi vào năm 2010 chi phí mới ở mức 887 tỷ USD, con số đó dự kiến sẽ tăng lên hơn 1,9 nghìn tỷ USD vào năm 2027 [2]. Tại Việt Nam, theo số liệu thống kê của Bộ Y tế (BYT), mức chi tiền thuốc bình quân đầu người hàng năm cũng gia tăng (12% trong giai đoạn 2015-2019) [3]. Mặc dù ngân sách y tế tăng lên, nhưng không có hệ thống y tế nào trên Thế giới có thể cung cấp không giới hạn tất cả các loại thuốc [4]. Các nghiên cứu và báo cáo Quốc tế về chi tiêu cho dược phẩm trong bệnh viện cho thấy, những chi phí này đã trở thành một gánh nặng tài chính ngày càng tăng do sự chuyển đổi dịch tễ học và nhân khẩu học cũng như sự gia tăng chi phí điều trị [5].
Vì vậy, việc lựa chọn hợp lý các loại thuốc thiết yếu để được đưa vào danh mục thuốc (DMT) là một trong những nguyên tắc cơ bản của bất kỳ chính sách dược phẩm nào và là cơ sở khoa học về kinh tế cho các tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền ban hành các quyết định về quản lý y tế [6]. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rất nhiều bệnh viện trên Thế giới gặp khó khăn trong việc xây dựng một DMT hiệu quả. Theo Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organisation - WHO), có tới 50-70% chi tiêu về thuốc tại các nước đang phát triển không tác động rõ rệt về sức khỏe. Điều này cho thấy mặt trái của vấn đề khi thuốc có sẵn, nhưng sử dụng một cách không thích hợp [7].
Để xây dựng một DMT tốt, Hội đồng thuốc và điều trị (HĐT&ĐT) của bệnh viện cần tiến hành thu thập, phân tích tình hình sử dụng thuốc năm trước về số lượng và giá trị sử dụng; đồng thời đánh giá các thuốc đề nghị bổ sung hoặc loại bỏ từ các các đơn vị thuộc bệnh viện một cách khách quan và khoa học. Bệnh viện Bạch Mai là một bệnh viện đa khoa hạng đặc biệt với quy mô 1900 giường bệnh kế hoạch, bệnh viện được xem là trung tâm khám chữa bệnh tuyến cuối 1 của các tỉnh phía Bắc. Hàng năm bệnh viện sử dụng một lượng thuốc lớn phục vụ công tác khám chữa bệnh. Bên cạnh đó, tại Bệnh viện Bạch Mai, những năm qua đã có các nghiên cứu về sử dụng thuốc nội trú và ngoại trú được triển khai.
Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa đánh giá được toàn diện các khía cạnh của DMT. Năm 2016, Lê Thị Tuyết Mai đã có một nghiên cứu khá toàn diện về DMT của Bệnh viện Bạch Mai nhưng hạn chế của nghiên cứu đó là chưa chỉ ra được những vấn đề bất cập của DMT thời điểm đó cũng như nguyên nhân của những bất cập đó. Ngoài ra, dịch COVID-19 bùng phát mạnh trong năm 2020-2021 cùng với đó lãnh đạo cấp cao (Giám đốc và các Phó giám đốc) và lãnh đạo các đơn vị của bệnh viện có sự chuyển đổi liên tục. Theo đó, tư duy và quan điểm chỉ đạo về sử dụng thuốc có những thay đổi nhằm đáp ứng với nhu cầu phòng chống dịch và bối cảnh mới của ngành Y tế nói chung, của Bệnh viện Bạch Mai nói riêng.
Vậy danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Bạch Mai năm 2021 như thế nào? Còn tồn tại những vấn đề gì trong danh mục thuốc sử dụng? Để có cái nhìn tổng quan và cập nhật nhất thì nghiên cứu về danh mục thuốc được sử dụng tại bệnh viện là rất cần thiết và mang tính thực tiễn, nhằm tìm ra những giải pháp tốt cho bệnh viện về hoạt động sử dụng và cung ứng thuốc. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2021” được thực hiện với 2 mục tiêu: 1. Phân tích cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2021 2. Phân tích nguyên nhân của một số tồn tại trong danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2021 Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ làm cơ sở khoa học cho HĐT&ĐT xây dựng, lựa chọn DMT cho những năm tiếp theo đáp ứng cho nhu cầu sử dụng thuốc hợp lý, tối ưu hóa trong lựa chọn, nâng cao hiệu quả kinh tế, an toàn và hợp lý trong sử dụng thuốc.
Đồng thời, kết quả nghiên cứu của đề tài cũng là cơ sở tham khảo cho việc xây dựng DMT của bệnh viện trong toàn quốc. DANH MỤC THUỐC VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DMT 1. Danh mục thuốc Theo WHO định nghĩa: “DMT bệnh viện là một danh sách các thuốc đã được lựa chọn và phê duyệt để sử dụng trong bệnh viện” [8] Danh mục thuốc bệnh viện là cơ sở để đảm bảo cung ứng thuốc chủ động có kế hoạch nhằm phục vụ cho nhu cầu điều trị hợp lý, an toàn, hiệu quả và kinh tế. DMT bệnh viện được xây dựng tốt sẽ mang lại những lợi ích sau: - Loại bỏ được các thuốc không an toàn và kém hiệu quả, từ đó có thể giảm được số ngày nằm viện đồng thời giảm tỷ lệ bệnh tật và tử vong.
- Giảm số lượng và chi phí mua thuốc, sử dụng chi phí tiết kiệm được để mua các thuốc chất lượng tốt hơn, an toàn và hiệu quả hơn. - Giúp bệnh viện tập trung vào các hoạt động cung cấp thông tin thuốc và đào tạo liên tục cho cán bộ nhân viên. Do mô hình bệnh tật (MHBT) của mỗi bệnh viện khác nhau nên mỗi bệnh viện sẽ xây dựng một danh mục thuốc đặc thù riêng. Giám đốc bệnh viện căn cứ vào kết quả tham mưu của HĐT&ĐT về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị bằng thuốc của bệnh viện như xây dựng DMT, sự lựa chọn thuốc để mua sắm, sử dụng cho người bệnh theo nguyên tắc: ưu tiên lựa chọn thuốc generic, thuốc đơn chất, thuốc sản xuất trong nước.
Tại Việt Nam, BYT đã ban hành Thông tư 21/2013/TT-BYT Quy định về tổ chức và hoạt động của HĐT&ĐT giúp đỡ cho hoạt động này [9]. Một số phương pháp phân tích danh mục thuốc Phân tích sử dụng thuốc nhằm mục đích xác định những nhóm điều trị có mức tiêu thụ thuốc cao nhất và chi phí nhiều nhất, những thuốc quan trọng cần tồn trữ; trên cơ sở thông tin về tình hình bệnh tật, xác định những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý. Một số phương pháp phân tích sử dụng thuốc hiện nay mà HĐT&ĐT nên áp dụng thường xuyên, bao gồm: 3 1. Phương pháp phân tích ABC ♦ Khái niệm: Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách [9], [10].
♦ Vai trò, ý nghĩa: Phân tích ABC có thể cho thấy những thuốc được sử dụng thay thế với lượng lớn mà có chi phí thấp trong danh mục hoặc có sẵn trên thị trường. Thông tin này được sử dụng để: - Lựa chọn những thuốc thay thế có chi phí điều trị thấp hơn. - Tìm ra những liệu pháp điều trị thay thế. - Thương lượng với nhà cung cấp để mua được thuốc với giá thấp hơn.
- Lượng giá mức độ tiêu thụ thuốc, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng và từ đó phát hiện ra những vấn đề chưa hợp lý trong sử dụng thuốc bằng cách so sánh lượng thuốc tiêu thụ với mô hình bệnh tật. - Xác định phương thức mua các thuốc không có trong DMT thiết yếu của bệnh viện. Phân tích ABC có thể ứng dụng các số liệu tiêu thụ thuốc cho một chu kỳ trên một năm hoặc ngắn hơn. Phương pháp này cũng có thể ứng dụng cho một đợt đấu thầu hoặc nhiều đợt đấu thầu.
Thông thường, thuốc hạng A chiếm 10- 20% tổng sản phẩm thuốc, chiếm 75- 80% tổng giá trị tiền; thuốc hạng B chiếm 10- 20% tổng sản phẩm thuốc, 15-20% tổng giá trị tiền và còn lại là hạng C chiếm 60 -80% tổng sản phẩm thuốc với 5-10% tổng giá trị tiền. ♦ Ưu điểm: Ưu điểm chính của phân tích ABC là giúp xác định xem phần lớn ngân sách được chi trả cho những thuốc nào. ♦ Nhược điểm: Nhược điểm chính của phương pháp này là không cung cấp được đủ thông tin để so sánh những thuốc có hiệu lực khác nhau. Phân tích nhóm điều trị ♦ Khái niệm: 4 Phương pháp này sử dụng dữ liệu thống kê chi phí sử dụng, % chi phí từng thuốc, phân tích xác định những nhóm thuốc có chi phí cao, mối tương quan giữa các nhóm thuốc sử dụng trong điều trị và mô hình bệnh tật tại bệnh viện [9].
♦ Vai trò, ý nghĩa: - Xác định những nhóm điều trị có mức tiêu thụ thuốc cao nhất với chi phí nhiều nhất - Trên cơ sở thông tin về tình hình bệnh tật, xác định những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý. - Xác định những thuốc đã bị lạm dụng hoặc những thuốc mà mức tiêu thụ không mang tính đại diện cho những ca bệnh cụ thể ví dụ sốt rét và sốt xuất huyết. - HĐT&ĐT lựa chọn những thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và thuốc lựa chọn trong liệu pháp điều trị thay thế. Tương tự như phân tích ABC, một số ít nhóm điều trị có chi phí cao chiếm phần lớn chi phí.
Có thể tiến hành phân tích cụ thể hơn cho mỗi nhóm điều trị chi phí cao để xác định những thuốc đắt tiền và liệu pháp điều trị thay thế có chi phí hiệu quả cao. Phương pháp phân tích VEN ♦ Khái niệm: Phân tích VEN là phương pháp phổ biến giúp cho việc lựa chọn những thuốc cần ưu tiên để mua và dự trữ trong bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ mua tất cả các loại thuốc như mong muốn. Trong phân tích VEN, các thuốc được phân chia thành 3 hạng mục cụ thể như bảng sau: Bảng 1.