Tổng quan luận án

Hoạt động giám sát tính an toàn của thuốc sau khi lưu hành trên thị trường là yêu cầu thiết yếu trong thực hành y khoa. Các thử nghiệm lâm sàng trước khi cấp phép lưu hành thường bị giới hạn về quy mô mẫu, thời gian theo dõi và đối tượng nghiên cứu, dẫn đến việc không thể phản ánh đầy đủ các phản ứng có hại của thuốc (ADR), đặc biệt là các biến cố hiếm gặp hoặc xuất hiện muộn. Bài học từ thảm họa Thalidomid năm 1961 khiến gần 10.000 trẻ em trên toàn cầu dị tật bẩm sinh đã đặt nền móng cho sự ra đời của hệ thống Cảnh giác Dược (Pharmacovigilance).

Trong các phương pháp giám sát an toàn thuốc, báo cáo tự nguyện từ nhân viên y tế (NVYT) tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là phương pháp nền tảng, ít tốn kém và được áp dụng phổ biến nhất. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất của phương thức này là tình trạng báo cáo thấp hơn thực tế (under-reporting) cả về số lượng lẫn chất lượng thông tin. Tại Việt Nam giai đoạn 2011–2012, có tới 65,5% báo cáo ADR gửi về Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc (Trung tâm DI & ADR Quốc gia) bị thiếu các dữ liệu quan trọng để thẩm định mối quan hệ nhân quả giữa thuốc và phản ứng. Mặc dù bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh là khối cơ sở đóng góp lượng báo cáo ADR lớn nhất cho cơ sở dữ liệu quốc gia, nhưng các nghiên cứu đánh giá toàn diện về thực trạng và hiệu quả của các gói giải pháp can thiệp tại tuyến này vẫn còn thiếu hụt.

Luận án tiến sĩ dược học của nghiên cứu sinh Trần Thị Lan Anh, chuyên ngành Tổ chức Quản lý Dược (mã số: 62720412), thực hiện tại Trường Đại học Dược Hà Nội dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Thị Thanh Hương và PGS. Nguyễn Hoàng Anh, giải quyết các mục tiêu nghiên cứu sau:

  1. Phân tích thực trạng hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại ba bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh giai đoạn 2010–2012.
  2. Đánh giá tác động một số can thiệp đến hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại các bệnh viện trên.
  3. Đề xuất một số giải pháp tăng cường hiệu quả hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc trong giai đoạn tiếp theo.

Các câu hỏi nghiên cứu trọng tâm bao gồm: Thực trạng báo cáo ADR tại bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh đã tương xứng với quy mô điều trị hay chưa? Chất lượng dữ liệu báo cáo đã đáp ứng yêu cầu phát hiện tín hiệu an toàn thuốc hay chưa? Các giải pháp can thiệp đồng bộ thuộc Dự án "Hỗ trợ hệ thống y tế" (Hợp phần 2.1) mang lại hiệu quả ở mức độ nào và những yếu tố nào tác động đến hoạt động này?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ báo cáo ADR của 3 bệnh viện gửi về Trung tâm DI & ADR Quốc gia từ 01/01/2010 đến 31/12/2015; sổ theo dõi ADR tại Khoa Dược; bác sĩ, điều dưỡng tại các khoa lâm sàng và dược sĩ tại Khoa Dược.
  • Phạm vi không gian: Ba bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh đại diện cho 3 miền gồm Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh (BV1 - miền Bắc), Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng (BV2 - miền Trung) và Bệnh viện Nhân dân Gia Định (BV3 - miền Nam). Mỗi bệnh viện có công suất sử dụng giường bệnh thực tế từ 1.000 đến 1.500 giường.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn nghiên cứu từ 01/01/2010 đến 31/12/2015, chia thành giai đoạn trước can thiệp (2010–2012) và sau can thiệp (2013–2015). Thời điểm thu thập số liệu thực địa diễn ra vào tháng 1–3/2013 và tháng 1–3/2016.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Cảnh giác Dược là môn khoa học và hoạt động chuyên môn liên quan đến việc phát hiện, đánh giá, hiểu và phòng tránh tác dụng có hại hoặc bất kỳ vấn đề nào khác liên quan đến thuốc, bao gồm biến cố bất lợi của thuốc (ADE), sai sót liên quan tới thuốc (ME), thuốc kém chất lượng và tương tác bất lợi. Báo cáo tự nguyện khởi nguồn từ bức thư của bác sĩ WG McBride đăng trên tạp chí Lancet (1961), sau đó được thể chế hóa qua hệ thống Yellow Card (Anh), MedWatch (Mỹ), Blue Card (Úc) và hệ thống quản lý dữ liệu VigiBase của Trung tâm Giám sát Thuốc Toàn cầu Uppsala (WHO-UMC) với 121 quốc gia tham gia và hơn 11,2 triệu báo cáo tính đến năm 2014. Tại Việt Nam, hoạt động theo dõi ADR bắt đầu từ năm 1994 dưới sự tài trợ của SIDA (Thụy Điển), gia nhập mạng lưới WHO năm 1998 và thành lập Trung tâm DI & ADR Quốc gia năm 2009 theo Quyết định 991/QĐ-BYT.

Nội dung tổng quan Tác giả, công trình Dữ liệu và phát hiện chính
Báo cáo thiếu (under-reporting) Hazell & Shakir (2006) Tỷ lệ báo cáo thiếu tại châu Âu dao động từ 36% đến trên 99%; đối với ADR nghiêm trọng dao động từ 47% đến trên 99%.
Báo cáo thiếu theo ca bệnh Nicole Mittman và cs. (Canada) Hồi cứu hội chứng hoại tử thượng bì nhiễm độc (TEN): Báo cáo thiếu 10% so với viện bỏng và 4% so với dữ liệu CIHI.
Báo cáo thiếu theo mã bệnh Bäckström Martin và cs. (Thụy Điển) Rà soát 1.349 ca bệnh mạch máu theo mã ICD-10 ghi nhận tỷ lệ báo cáo thiếu là 86%.
Thực trạng KAP của NVYT Ghazal Vessal (2012); Fadare (2011); Li Qing (2004); Santosh KC (2013) Tỷ lệ không biết quy trình báo cáo: 4,5%–71,9%; không chắc chắn quan hệ nhân quả: 26,5%–43%; tin thuốc lưu hành luôn an toàn: 33,2%.
Can thiệp nâng cao báo cáo Chiara Biagi (2013); Bäckström (2004); Lopez-Gonzalez (2011) Gửi bản tin an toàn giúp tăng 49,2% số báo cáo; hỗ trợ tài chính tăng 59%; đào tạo tập huấn giúp tăng 65,4% lượng báo cáo.
Thực trạng báo cáo tại Việt Nam Nguyễn Hoàng Anh và cs. (2012); Lê Thùy Linh (2011) Đánh giá dữ liệu BV Bạch Mai, BV Thanh Nhàn, BV Phụ sản TW và nhóm thuốc chống lao: Kháng sinh và thuốc chống lao chiếm tỷ lệ nghi ngờ cao nhất; biểu hiện da và toàn thân chiếm ưu thế.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chỉ khảo sát cắt ngang đơn lẻ ở từng bệnh viện hoặc phân tích hồi cứu trên một nhóm thuốc chuyên biệt, thiếu tính hệ thống. Chưa có công trình nào đánh giá đồng thời cấu trúc quản lý, kiến thức - thái độ - thực hành của NVYT kết hợp với việc triển khai và đo lường hiệu quả của một gói can thiệp đa biện pháp theo chuỗi thời gian (trước và sau can thiệp) tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh đại diện cho 3 miền Bắc, Trung, Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên khung lý thuyết tích hợp các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động báo cáo ADR do Herdeiro và cộng sự (2004) đề xuất:

  • Yếu tố bên trong: Dựa trên thuyết Kiến thức – Thái độ – Thực hành (KAP) về sự hình thành thói quen trong khoa học sức khỏe.
  • Yếu tố bên ngoài: Dựa trên thuyết Thỏa mãn nhu cầu (Satisfaction of needs), giải thích tác động của môi trường làm việc, áp lực quản lý, cơ chế hỗ trợ, sự phối hợp liên chuyên khoa và nguồn lực sẵn có.
  • Khung lý thuyết 7 rào cản của Inman (1976) và Khung các miền lý thuyết (Theoretical Domains Framework - TDF) gồm 12 yếu tố hành vi.
  • Bộ công cụ đánh giá Cảnh giác Dược dựa trên chỉ số (IPAT - Indicator-based Pharmacovigilance Assessment Tool) để lượng hóa 5 nhóm biến số tổ chức và quản lý.
  • Phương pháp đánh giá chất lượng báo cáo theo thang điểm hoàn thiện (Completeness Score) của WHO-UMC (2013).
Nhóm biến số Chỉ tiêu và phương pháp lượng giá Kỹ thuật thu thập
Tổ chức hoạt động và quản lý (IPAT) 5 nhóm tiêu chí: (1) Cơ cấu tổ chức; (2) Cơ sở vật chất và nhân lực; (3) Triển khai biểu mẫu; (4) Hoạt động nghiên cứu an toàn thuốc; (5) Thông tin và truyền thông. Thang điểm số. Nghiên cứu tài liệu, quan sát và phỏng vấn quản lý.
Kiến thức, thái độ của NVYT (KAP) Tỷ lệ nhận thức đúng định nghĩa ADR theo WHO; kiến thức về quy định thời hạn gửi báo cáo khẩn/nghiêm trọng; thái độ về tính cần thiết của báo cáo và nhu cầu nhận phản hồi. Khảo sát bằng bộ câu hỏi cấu trúc (năm 2013 và 2015).
Thực hành báo cáo ADR Số lượng báo cáo; tỷ lệ báo cáo/1.000 bệnh nhân nội trú; tỷ lệ báo cáo nghiêm trọng; tỷ lệ báo cáo thiếu; nhóm thuốc nghi ngờ; cơ quan bị ảnh hưởng (chuẩn hóa thuật ngữ WHO-ART: SOC, PT). Trích xuất cơ sở dữ liệu Trung tâm DI & ADR Quốc gia và sổ khoa Dược.
Chất lượng dữ liệu báo cáo Điểm hoàn thành báo cáo trung bình và tỷ lệ báo cáo xếp loại tốt theo thuật toán trọng số của WHO-UMC (2013). Chấm điểm dữ liệu báo cáo thu nhận được qua 2 giai đoạn.
Yếu tố rào cản định tính Các khó khăn về khối lượng công việc, phối hợp chuyên môn, quy trình và trách nhiệm pháp lý. Phỏng vấn sâu (PVS) và thảo luận nhóm trọng tâm (TLN).

Nội dung gói giải pháp can thiệp triển khai trong giai đoạn 2013–2015 từ Dự án "Hỗ trợ hệ thống y tế" (Hợp phần 2.1):

  1. Tổ chức quản lý: Triển khai văn bản quy phạm pháp luật (Quyết định 1088/QĐ-BYT, Quyết định 2111/QĐ-BYT); thiết lập cổng báo cáo ADR trực tuyến trên website của Trung tâm DI & ADR Quốc gia.
  2. Nguồn lực: Hỗ trợ kinh phí và đào tạo cho 02 cán bộ chuyên trách ADR tại mỗi bệnh viện; tổ chức đào tạo cơ bản về CGD cho NVYT (BV1: 44 người, BV2: 56 người, BV3: 5 người); cấp tài khoản tra cứu cơ sở dữ liệu quốc tế Micromedex và MedicinesComplete.
  3. Truyền thông và phản hồi: Trung tâm DI & ADR Quốc gia định kỳ gửi phản hồi thẩm định quan hệ nhân quả (đạt tỷ lệ 40,1% đến 48,0% tổng số báo cáo nhận được); phát hành Bản tin Cảnh giác Dược hàng quý gửi tới các khoa phòng.

Nội dung chính theo từng chương

Đặt vấn đề

Trình bày bối cảnh quốc tế và thực trạng Cảnh giác Dược tại Việt Nam. Nêu rõ tính cấp thiết của việc nâng cao số lượng và chất lượng báo cáo ADR tự nguyện tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận án.

Chương 1: Tổng quan

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về Cảnh giác Dược, các định nghĩa chuyên môn theo WHO (ADR, ADE, ME). Phân tích vai trò và gánh nặng của ADR trong bệnh viện (chiếm 15%–20% ngân sách bệnh viện; 28%–90% biến cố có thể phòng tránh được). Tổng quan mạng lưới giám sát quốc tế của WHO-UMC và các giai đoạn phát triển Cảnh giác Dược tại Việt Nam từ năm 1994 đến nay. Điểm lại y văn quốc tế và trong nước về thực trạng báo cáo thiếu, khảo sát KAP của nhân viên y tế, các thang đo chất lượng báo cáo và bằng chứng về hiệu quả của các biện pháp can thiệp đơn lẻ và phối hợp.

Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu, so sánh trước - sau can thiệp kết hợp định lượng và định tính. Mô tả 3 địa bàn nghiên cứu (BVĐK tỉnh Quảng Ninh, BVĐK Đà Nẵng, BV Nhân dân Gia Định). Chi tiết hóa hệ thống biến số nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu khảo sát KAP năm 2013 và 2015, phương pháp chấm điểm chất lượng dữ liệu báo cáo theo WHO-UMC (2013), cấu trúc bộ công cụ IPAT và quy trình phân tích dữ liệu định tính qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm. Mô tả chi tiết nội dung các can thiệp thuộc Dự án Hỗ trợ hệ thống y tế giai đoạn 2013–2015.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trình bày toàn bộ số liệu thực nghiệm thu thập được theo 2 giai đoạn:

  • Thực trạng giai đoạn trước can thiệp (2010–2012): Điểm IPAT về tổ chức quản lý còn thấp ở các mảng nghiên cứu an toàn thuốc, thông tin truyền thông và nhân lực chuyên trách. Tỷ lệ NVYT hiểu đầy đủ định nghĩa ADR theo WHO ở mức thấp; tỷ lệ NVYT từng gặp ADR nhưng chưa từng báo cáo còn cao. Số lượng báo cáo gửi về trung tâm quốc gia còn hạn chế; tỷ lệ báo cáo/1.000 bệnh nhân nội trú thấp; tỷ lệ báo cáo thiếu giữa sổ theo dõi tại bệnh viện và cơ sở dữ liệu quốc gia còn đáng kể. Nhóm thuốc kháng sinh (đặc biệt là beta-lactam, quinolon) và biểu hiện ngoài da, toàn thân chiếm tỷ lệ cao nhất.
  • Đánh giá tác động sau can thiệp (2013–2015): Điểm đánh giá tổ chức và quản lý IPAT tại cả 3 bệnh viện đều tăng; nhận thức và thái độ của NVYT về tầm quan trọng của báo cáo, thời hạn báo cáo nghiêm trọng cải thiện có ý nghĩa thống kê; số lượng báo cáo ADR tăng trưởng ổn định theo chuỗi thời gian hàng tháng từ 2010 đến 2015; tỷ lệ báo cáo nghiêm trọng và tỷ lệ báo cáo/1.000 bệnh nhân nội trú tăng; điểm chất lượng báo cáo trung bình và tỷ lệ báo cáo chất lượng tốt tăng rõ rệt; tỷ lệ báo cáo thiếu giảm.
  • Phân tích rào cản định tính: Ghi nhận các trở ngại chính gồm tình trạng quá tải lâm sàng, luân chuyển nhân sự thường xuyên, thiếu kinh phí duy trì vị trí chuyên trách khi dự án kết thúc, và tâm lý e ngại quy kết trách nhiệm.

Chương 4: Bàn luận

Biện giải các kết quả nghiên cứu trong mối tương quan với y văn thế giới và điều kiện thực tiễn tại Việt Nam. Phân tích cơ chế tác động của gói can thiệp đa biện pháp lên việc thay đổi nhận thức và hành vi báo cáo của bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng. Lý giải đặc điểm mô hình thuốc nghi ngờ gây ADR tại Việt Nam tập trung chủ yếu vào kháng sinh, khác biệt với các quốc gia phát triển vốn ghi nhận nhiều biến cố từ thuốc tim mạch và thần kinh. Phân tích tính khả thi và bền vững của việc duy trì cán bộ chuyên trách CGD và cơ chế phản hồi thông tin hai chiều giữa trung tâm quốc gia và cơ sở điều trị.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về lý luận và khoa học

  • Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam áp dụng đồng bộ mô hình lý thuyết Herdeiro, bộ công cụ chỉ số IPAT và thang đo chất lượng báo cáo WHO-UMC (2013) để đánh giá toàn diện hoạt động Cảnh giác Dược tại bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh.
  • Chứng minh bằng thực nghiệm khoa học rằng mô hình can thiệp đa giải pháp (kết hợp hoàn thiện thể chế, bố trí cán bộ chuyên trách, đào tạo liên tục, cung cấp công cụ tra cứu và duy trì phản hồi chuyên môn) tạo ra tác động cộng hưởng vượt trội trong việc cải thiện cả số lượng và chất lượng dữ liệu báo cáo ADR so với các can thiệp đơn lẻ.

Đóng góp mới về thực tiễn và quản lý

  • Cung cấp bức tranh toàn cảnh về thực trạng tổ chức, nhận thức, thái độ và thực hành báo cáo ADR của NVYT tại 3 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh đại diện cho 3 miền Bắc, Trung, Nam trong giai đoạn 2010–2015.
  • Đo lường và lượng hóa cụ thể hiệu quả của các can thiệp thuộc Hợp phần 2.1 Dự án "Hỗ trợ hệ thống y tế", khẳng định xu hướng gia tăng số lượng báo cáo theo tháng, tăng tỷ lệ phát hiện ADR nghiêm trọng, nâng cao điểm hoàn thiện thông tin báo cáo và giảm tỷ lệ báo cáo thiếu.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  1. Thể chế hóa và duy trì vị trí cán bộ chuyên trách Cảnh giác Dược/Dược lâm sàng tại Khoa Dược các bệnh viện tuyến tỉnh; phân công nhiệm vụ đầu mối giám sát an toàn thuốc cụ thể cho từng khoa lâm sàng.
  2. Đưa nội dung đào tạo Cảnh giác Dược và kỹ năng báo cáo ADR vào chương trình tập huấn định kỳ bắt buộc cho nhân viên y tế mới tuyển dụng, đặc biệt là khối bác sĩ và điều dưỡng.
  3. Ứng dụng công nghệ thông tin: Tích hợp biểu mẫu báo cáo ADR điện tử vào hệ thống phần mềm quản lý bệnh viện (HIS), liên kết trực tiếp với cổng thông tin của Trung tâm DI & ADR Quốc gia.
  4. Tăng cường công tác phản hồi thông tin thẩm định quan hệ nhân quả và phát hành bản tin an toàn thuốc định kỳ để tạo động lực duy trì thực hành báo cáo cho nhân viên y tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Phạm vi khảo sát tập trung tại 03 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh được thụ hưởng can thiệp trực tiếp từ Dự án "Hỗ trợ hệ thống y tế", do đó tính đại diện cho toàn bộ các tuyến y tế khác (bệnh viện chuyên khoa, bệnh viện tuyến huyện, bệnh viện tư nhân) chưa được đánh giá đầy đủ. Dữ liệu theo dõi dừng lại ở năm 2015, chưa đo lường được tính bền vững dài hạn sau khi nguồn kinh phí tài trợ của dự án kết thúc hoàn toàn. Thang điểm chất lượng WHO-UMC (2013) chưa đánh giá sâu các trường thông tin về tiền sử dùng thuốc và bệnh mắc kèm do giới hạn của cơ sở dữ liệu VigiBase.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng mô hình nghiên cứu và can thiệp sang khối bệnh viện chuyên khoa và y tế cơ sở; nghiên cứu ứng dụng bệnh án điện tử (EMR) và các thuật toán phát hiện tự động biến cố bất lợi của thuốc trong môi trường lâm sàng.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Tổ chức Quản lý Dược, Dược lâm sàng: Tài liệu cung cấp phương pháp luận chuẩn mực về thiết kế nghiên cứu can thiệp trước - sau kết hợp định tính và định lượng, hướng dẫn ứng dụng bộ công cụ IPAT và thang đo chất lượng báo cáo WHO-UMC.
  • Đối với lãnh đạo bệnh viện và Khoa Dược: Cung cấp mô hình thực tiễn để tổ chức, vận hành mạng lưới giám sát Cảnh giác Dược nội viện, xây dựng tiêu chí đánh giá an toàn thuốc và tối ưu hóa quy trình tiếp nhận, xử lý báo cáo ADR.
  • Đối với cơ quan quản lý y tế (Bộ Y tế, Cục Quản lý Dược, Trung tâm DI & ADR Quốc gia): Cung cấp bằng chứng thực tiễn phục vụ việc sửa đổi, bổ sung các quy định chuyên môn, hướng dẫn quốc gia về Cảnh giác Dược và hoạch định chính sách sử dụng thuốc an toàn, hợp lý.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án thực hiện khảo sát tại các bệnh viện nào và trong khung thời gian nào? Nghiên cứu được triển khai tại 3 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh đại diện cho 3 miền: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh (miền Bắc), Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng (miền Trung) và Bệnh viện Nhân dân Gia Định (miền Nam) trong giai đoạn 6 năm từ 01/01/2010 đến 31/12/2015 (giai đoạn trước can thiệp: 2010–2012; giai đoạn sau can thiệp: 2013–2015).

  2. Gói giải pháp can thiệp chính được thực hiện trong giai đoạn 2013–2015 gồm những nội dung gì? Gói can thiệp bao gồm: ban hành văn bản quy định và quy trình chuyên môn (Quyết định 1088/QĐ-BYT, Quyết định 2111/QĐ-BYT); thiết lập cổng báo cáo trực tuyến; bố trí và hỗ trợ kinh phí cho 02 cán bộ chuyên trách ADR/bệnh viện; tập huấn kiến thức CGD cơ bản cho NVYT; cung cấp tài khoản truy cập phần mềm tra cứu Micromedex và MedicinesComplete; định kỳ gửi phản hồi thẩm định báo cáo ADR (đạt tỷ lệ 40,1%–48,0%) và phát hành Bản tin Cảnh giác Dược hàng quý.

  3. Mô hình lý thuyết nào được sử dụng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi báo cáo ADR của nhân viên y tế? Luận án áp dụng mô hình lý thuyết của Herdeiro và cộng sự (2004), kết hợp giữa các yếu tố bên trong thuộc về nhân viên y tế (dựa trên thuyết Kiến thức – Thái độ – Thực hành KAP) và các yếu tố bên ngoài thuộc về môi trường làm việc, quản lý và hỗ trợ nguồn lực (dựa trên thuyết Thỏa mãn nhu cầu).

  4. Nhóm thuốc và biểu hiện lâm sàng nào được ghi nhận nghi ngờ gây ADR nhiều nhất trong các báo cáo tại Việt Nam? Nhóm thuốc kháng sinh (đặc biệt là nhóm cephalosporin như cefotaxim, ceftriaxon, quinolon và nhóm thuốc chống lao) là nhóm thuốc bị nghi ngờ gây ADR nhiều nhất. Các cơ quan bị ảnh hưởng được ghi nhận phổ biến nhất là rối loạn da và mô dưới da, tiếp theo là các rối loạn toàn thân.

  5. Chất lượng dữ liệu báo cáo ADR được đánh giá bằng công cụ nào? Chất lượng báo cáo được đánh giá bằng phương pháp tính điểm hoàn thành (Completeness Score) theo khuyến cáo năm 2013 của Trung tâm Giám sát Thuốc Toàn cầu WHO-UMC, dựa trên thuật toán gán trọng số cho từng trường dữ liệu lâm sàng trong báo cáo.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Trần Thị Lan Anh đã phân tích toàn diện thực trạng hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại 3 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh đại diện 3 miền giai đoạn 2010–2012, đồng thời chứng minh hiệu quả tích cực của gói can thiệp đa biện pháp giai đoạn 2013–2015 trong việc gia tăng số lượng, nâng cao chất lượng báo cáo và hoàn thiện tổ chức Cảnh giác Dược tại bệnh viện. Công trình khẳng định vai trò quyết định của việc kết hợp hoàn thiện chính sách, bố trí cán bộ chuyên trách, đào tạo chuyên môn và duy trì phản hồi thông tin hai chiều. Kết quả nghiên cứu là tài liệu có giá trị khoa học và thực tiễn cao, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác quản lý dược và hoạch định chính sách an toàn thuốc tại Việt Nam.