Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở pháp lý về ứng dụng công nghệ thông tin Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến công tác phát triển CNTT, coi đây là động lực quan trọng của sự phát triển kinh tế - xã hội, các chính sách về tăng cường ứng dụng phát triển CNTT đã được ban hành như Chỉ thị 58/CT-TW năm 2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT [1]; Luật CNTT đã được Bộ bưu chính viễn thông thông qua ngày 29/06/2006. Đây là những văn bản quan trọng nhất làm tiền đề để ban hành một loạt các chính sách nhằm tăng cường ứng dụng CNTT trên các lĩnh vực. Thể chế hoá đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, Chính phủ Việt nam cũng đã ban hành những chính sách liên quan đến CNTT như Quyết định số 81/2001/QĐ-TTg ngày 24/05/2001 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt chương trình hành động triển khai Chỉ thị số 58/CT-TW [13]; Ngày 12 tháng 4 năm 2007 Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 51/2007/QĐ-TTg phê duyệt chương trình phát triển công nghiệp phần mềm Việt Nam đến năm 2010 [12]; Quyết định số 246/2005/TTg của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển CNTT đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 [11], trong đó xây dựng hệ thống thông tin y tế và chăm sóc sức khỏe là một trong những chương trình trọng điểm quốc gia.
Tháng 06/2013, diễn đàn cấp cao CNTT - truyền thông Việt Nam đã diễn ra tại Hà Nội với chủ đề "Công nghệ thông tin - nền tảng phương thức phát triển mới, nâng cao toàn diện năng lực cạnh tranh quốc gia". Tại sự kiện này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định chính phủ chủ trương xác định CNTT là một trong những động lực quan trọng nhất của sự phát triển, góp phần làm biến đổi đời sống kinh tế xã hội. Đồng thời, Thủ tướng đề ra bảy nhiệm vụ, giải pháp cụ thể nhằm đưa CNTT trở thành nền tảng của phương thức phát triển mới, coi đây là con đường ngắn nhất để Việt Nam tiến kịp các nước phát triển, tiến kịp thời đại. Sau một năm, đa số các chỉ đạo của Thủ tướng đã dần được hiện thực hoá bằng các nghị quyết, văn bản mang tính đột phá.
Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp, chuyên gia, nhà nghiên cứu phát triển và ứng dụng CNTT trong sản xuất, kinh doanh và quản lý, 3 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Tổng quan hướng tới mục tiêu nâng cao toàn diện năng lực cạnh tranh quốc gia. Quan điểm này được thể hiện rõ nét qua Nghị quyết 36/NQ-TW về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, hội nhập quốc tế mới được Bộ chính trị ban hành ngày 01/07/2014 [2], thay thế cho Chỉ thị số 58 được Bộ chính trị ban hành năm 2000. Nghị quyết 36 nhấn mạnh CNTT là công cụ hữu hiệu tạo lập phương thức phát triển mới và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Sự ra đời của Nghị quyết mang đến "thời cơ vàng" cho ngành CNTT nói riêng và toàn bộ nền kinh tế Việt Nam nói chung phát triển bền vững.
Cần tạo môi trường thuận lợi cho phát triển thị trường CNTT, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, tạo chỗ đứng vững chắc trên thị trường trong nước và xây dựng năng lực cạnh tranh vươn ra thị trường nước ngoài. Thực hiện chính sách của Đảng và nhà nước đồng thời tăng cường quản lý, điều hành nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ y tế trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, BYT đã ban hành một loạt chính sách liên quan đến ứng dụng và phát triển CNTT như Quyết định số 5573 /QĐ-BYT ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ y tế (BYT) về tiêu chí công cụ quản lý BV [3], Quyết định 1191/QĐ-BYT của BYT về việc phê duyệt đề án kiện toàn hệ thống tổ chức CNTT trong các đơn vị sự nghiệp của ngành y tế giai đoạn từ năm 2010 đến 2015 [6]; Chỉ thị 02/CT-BYT ngày 25 tháng 02 năm 2009 của BYT về việc đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT trong ngành y tế [4].Quán triệt chính sách của Đảng, Nhà nước và của ngành, nhiều địa phương đã ban hành chính sách riêng nhằm tăng cường ứng dụng CNTT. Những chính sách về CNTT đã ban hành của Đảng, Nhà nước và của ngành là hành lang pháp lý và là cơ sở để các ban, ngành, các đơn vị đầu tư nguồn lực nhằm đẩy mạnh ứng dụng và trát triển CNTT trong mọi lĩnh vực, khai thác có hiệu quả thông tin và trí thức trong tất cả các ngành, trong đó có ngành y tế. Tuy nhiên chính sách về ứng dụng CNTT của từng lĩnh vực, từng ngành chưa thật sự hoàn thiện và tạo tiền đề cho việc ứng dụng và phát triển CNTT.
Chính sách phát triển CNTT trong lĩnh vực y tế chưa quy định cụ thể về chuẩn thông tin y tế, chuẩn quy trình hoạt động y tế có ứng dụng CNTT. Chính sách được ban hành nhưng thiếu điều kiện để triển khai do thiếu nguồn lực đầu tư, đặc biệt trong lĩnh vực y tế, ngân sách đầu tư hàng năm rất thấp 4 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Tổng quan nên việc dành kinh phí 1% theo tinh thần chỉ thị 02 của Bộ trưởng BYT đầu tư cho CNTT là khó khăn. Trong những năm qua, công tác ứng dụng CNTT trong hệ thống BV nói riêng và các đơn vị trong ngành y tế nói chung đã nhận được chỉ đạo sát sao của các cấp lãnh đạo Chính phủ và BYT. Các chính sách đã và đang được xây dựng để tạo hành lang pháp lý hoàn chỉnh để để đẩy mạnh lĩnh vực này.
Ban chỉ đạo được thành lập theo Quyết định số 2794/QĐ-BYT ngày 04/08/2009 làm đầu mối để tăng cường quản lý, lập chính sách cho công tác ứng dụng CNTT trong ngành y tế [5]. Các đơn vị y tế đã quan tâm đến việc đầu tư nhằm đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quản lý và điều hành các hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Bên cạnh đó, lĩnh vực này còn nhận được sự quan tâm của các tổ chức hợp tác phát triển cũng như vì lợi nhuận, coi đây là một hướng ưu tiên đầu tư trong thời gian tới. Từ vị trí kinh tế và địa lý của thành phố, theo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thành phố 2001 - 2020, thành phố Hồ Chí Minh đã thông qua “Chương trình mục tiêu ứng dụng và phát triển CNTT (giai đoạn 2002 – 2005)”, với 3 mục tiêu, 10 chỉ tiêu, 9 chương trình, 12 dự án phát triển CNTT giai đoạn 2001 - 2005; Quyết định 27/2012/QĐ-UBND ngày 28 tháng 06 năm 2012 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về việc phê duyệt Chương trình phát triển CNTT - Truyền thông giai đoạn 2011 - 2015” [15]; Quyết định 2296/QĐ-UBND ngày 09 tháng 05 năm 2013 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về việc phê duyệt “Chương trình ứng dụng CNTT trong ngành y tế thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2012 - 2015” [16] đã được nêu rõ ứng dụng rộng rãi CNTT hỗ trợ công tác quản lý sức khoẻ và các hoạt động chăm sóc sức khoẻ người dân.
Phát triển và hoàn thiện việc quản lý hệ thống các BV bằng CNTT. Phát triển mạng Medinet vững chắc và có hiệu quả nhiều mặt. Hiện Nghị quyết 36/NQ-TW về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, hội nhập quốc tế [2] thay thế cho chỉ thị số 58 được Bộ chính trị ban hành năm 2000 mới được Bộ Chính trị ban hành ngày 01/07/2014 nên sắp tới đây có lẽ BYT cũng như Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Sở y tế thành phố Hồ Chí Minh sẽ ban hành các hướng dẫn cụ thể ứng dụng CNTT hỗ trợ công tác quản 5 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Tổng quan lý sức khoẻ và các hoạt động chăm sóc sức khoẻ người dân trong việc phát triển và hoàn thiện việc quản lý hệ thống các BV. Với các cơ sở trên sẽ giúp tạo nên một hành lang pháp lý vững chắc cho công cụ phân tích đã sử dụng.2 Tình hình sử dụng thuốc trên thế giới và Việt Nam 1.1 Trên thế giới Theo báo cáo của WHO [24], chi phí sử dụng thuốc bình quân đầu người trên thế giới trong năm 2005/2006 dao động từ 7,71 USD ở các quốc gia có thu nhập thấp đến 431,6 USD ở các quốc gia có thu nhập cao; con số này cũng có sự thay đổi đáng kể giữa các nhóm thu nhập ở mỗi quốc gia.
Bên cạnh đó, 16% dân số thế giới ở các quốc gia có thu nhập cao chiếm trên 78% chi tiêu toàn cầu về thuốc. Tổng chi phí dược phẩm (Total Pharmaceuticak Expenditure - TPE) chiếm 1,41% đến 1,63% tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product - GDP) mặc dù có sự thay đổi đáng kể giữa các quốc gia dao động từ 0,2% đến 3,8%. TPE có liên quan chặt chẽ với cả Tổng chi phí y tế (Total Health Expenditure - THE) và GDP. Các tỷ lệ chi cho thuốc cao hơn ở các nước thu nhập bình quân đầu người thấp.
Giá trị TPE/THE dao động từ 7,7% đến 67,6% và trung bình ở mức 24,9%. TPE được xác định theo giá và số lượng thuốc đã được tiêu thụ. Ở những nước có mức giá thấp và TPE trên đầu người cao thì việc sử dụng hợp lý các loại thuốc là rất quan trọng để kiểm soát TPE và sự tăng trưởng của nó. Chính sách bổ sung về giá thuốc có thể được yêu cầu để đảm bảo quyền công bằng trong tiếp cận và sử dụng thuốc.
Vì thế, mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG) 8-E đã thể hiện cam kết toàn cầu để đảm bảo việc tiếp cận với các loại thuốc thiết yếu có giá cả hợp lý sẽ đạt được vào năm 2015. Để đạt được điều này, việc tăng cường nguồn chi cho dược phẩm là cần thiết ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Điều này có thể đạt được bằng cách tăng bảo hiểm y tế (BHYT) hoặc tăng chi tiêu công dành cho dược phẩm.2 Tại Việt Nam Riêng tại Việt Nam, theo thống kê của BYT, tiền thuốc bình quân đầu người tại Việt Nam từ 31,18 USD ở năm 2013 tăng lên 37,97 USD ở năm 2015, tăng khoảng 1,2 6 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Tổng quan lần [9], [8]. Tổng giá trị tiền thuốc sử dụng cũng tăng với tỷ lệ tương ứng, cho thấy rõ nhu cầu sử dụng thuốc của người dân đang tăng nhanh.
Điều này một mặt thấy được sự quan tâm, chăm sóc sức khỏe của người dân tăng, một mặt tiềm ẩn tình trạng sử dụng thuốc bất hợp lý.