CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Một số phương pháp phân tích danh mục thuốc 1. Phương pháp phân tích nhóm điều trị a) Khái niệm: Phân tích nhóm điều trị là phương pháp phân tích việc sử dụng thuốc dựa vào đánh giá số lượng sử dụng và giá trị tiền thuốc của các nhóm điều trị. b) Ý nghĩa của phương pháp phân tích nhóm điều trị: - Giúp xác định các nhóm điều trị có lượng tiêu thụ, chi phí cao nhất.
- Trên cơ sở thông tin về mô hình bệnh tật, xác định những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý, xác định những thuốc bị lạm dụng hoặc mức tiêu thụ không mang tính đại diện. - Giúp HĐT&ĐT lựa chọn các thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và lựa chọn thuốc cho các liệu pháp điều trị thay thế. Riêng đối với nhóm thuốc kháng sinh, từ năm 2019 TCYTTG đã đưa ra công cụ phân loại “AwaRe” nhằm kiểm soát sử dụng kháng sinh, giảm sự lây lan của đề kháng kháng sinh với những hậu quả bất lợi cho sức khỏe và giảm chi phí. “AwaRe” phân loại kháng sinh thành ba nhóm – Tiếp cận (Access), Theo dõi (Watch) và Dự trữ (Reserve).
Nhóm tiếp cận (Access) – là kháng sinh thuộc có hệ thống các bằng chứng có sẵn, an toàn và không làm nặng thêm tình trạng kháng thuốc. Tất cả các kháng sinh thuộc nhóm Access là một phần của danh sách thuốc thiết yếu (EML), có nghĩa là các kháng sinh này nên có sẵn rộng rãi trong tất cả các cơ sở khám, chữa bệnh và vẫn phải nỗ lực để đảm bảo sử dụng phù hợp. Nhiều kháng sinh nhóm penicillin thuộc về nhóm này. Nhóm theo dõi (Watch) – là kháng sinh có nguy cơ cao tác động tiêu cực đến tình trạng kháng thuốc.
Một số kháng sinh nhóm Watch cũng được đưa vào danh sách thuốc thiết yếu vì chúng là lựa chọn hiệu quả nhất cho một số các hội chứng lâm sàng được xác định rõ, nhưng việc sử dụng chúng phải được theo dõi chặt chẽ và chỉ định hạn chế Fluoroquinolones, nên sử dụng khi không 3 còn lựa chọn thứ nhất hoặc thứ hai. Nhằm giảm tình trạng kháng kháng sinh. Một số kháng sinh nhóm Watch cũng được đưa vào danh sách thuốc thiết yếu vì chúng là lựa chọn hiệu quả nhất cho một số các hội chứng lâm sàng được xác định rõ, nhưng việc sử dụng nên được sử dụng một cách tiết kiệm nhất có thể. Với phân nhóm kháng sinh theo AwaRe của TCYTTG nhằm tăng tỷ lệ tiêu thụ kháng sinh toàn cầu trong nhóm Access lên ít nhất 60% và giảm sử dụng kháng sinh có nguy cơ kháng thuốc cao nhất từ các nhóm Watch và Reserve.
Sử dụng kháng sinh nhóm Access làm giảm nguy cơ kháng thuốc vì chúng là kháng sinh nhóm phổ diện hẹp (nhắm vào một loại vi khuẩn cụ thể chứ không phải một số loại vi khuẩn). Chúng cũng ít tốn kém hơn vì chúng có sẵn trong nhóm generic [27] 1. Phương pháp phân tích ABC a) Khái niệm phân tích ABC Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn nhất trong chi phí dành cho mua thuốc bệnh viện. b) Vai trò và ý nghĩa của phân tích ABC Phân tích ABC có thể cho thấy những thuốc được sử dụng thay thế với lượng lớn mà có chi phí thấp trong danh mục hoặc có sẵn trên thị trường.
Thông tin này được sử dụng để: lựa chọn những thuốc có chi phí điều trị thấp hơn, tìm ra các liệu pháp điều trị thay thế, đàm phán với nhà cung cấp để mua thuốc với giá thấp hơn. Lượng giá mức độ tiêu thụ thuốc, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng và từ đó phát hiện những bất cập, chưa hợp lý trong sử dụng thuốc, bằng cách so sánh lượng thuốc tiêu thụ với mô hình bệnh tật. Xác định phương thức mua các thuốc không có trong DMT thiết yếu của bệnh viện. * Ưu nhược điểm chính của phân tích ABC: Phân tích ABC có ưu điểm chính giúp xác định xem phần lớn ngân sách được chi trả cho những thuốc nào.
4 Tuy nhiên nhược điểm của phân tích ABC: không cung cấp được đầy đủ thông tin để so sánh những thuốc có hiệu lực khác nhau. Phương pháp phân tích VEN a) Khái niệm phân tích VEN Phân tích VEN là phương pháp giúp xác định ưu tiên cho hoạt động mua sắm và tồn trữ thuốc trong bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để mua toàn bộ các loại thuốc như mong muốn. Trong phân tích VEN, các thuốc được phân chia thành 03 nhóm cụ thể sau: + Thuốc V (Vital drugs): Là thuốc sống còn dùng trong trường hợp cấp cứu hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện. + Thuốc E (Essential drugs): Là dùng trong các trường hợp bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh tật của bệnh viện.
+ Thuốc N (Non-Essential drugs): Là dùng trong các trường hợp bệnh nhẹ, bệnh có thể tự khỏi, có thể bao gồm các thuốc mà hiệu quả điều trị còn chưa được khẳng định rõ ràng hoặc giá thành không tương ứng với lợi ích lâm sàng của thuốc. b) Ý nghĩa của phương pháp phân tích VEN Phân tích VEN là một phương pháp đặc biệt giúp cho nhà quản lý bệnh viện đưa ra ưu tiên mua sắm và dự trữ thuốc. Kết quả phân tích VEN giúp xác định những chính sách ưu tiên cho việc lựa chọn mua sắm, sử dụng thuốc, quản lý hàng tồn kho và xác định sử dụng thuốc với giá cả phù hợp. Về lựa chọn thuốc: thuốc V và E nên ưu tiên lựa chọn đặc biệt khi ngân sách hạn hẹp.
Về mua sắm thuốc: Các thuốc V, E cần phải kiểm soát thường xuyên khi đặt hàng và dự trữ thường xuyên nhóm này, giảm dự trữ thuốc không cần thiết. Nếu ngân sách hạn hẹp thì việc sử dụng phân tích VEN được dùng để đảm bảo số lượng các thuốc V, E được mua đầy đủ trước tiên. Sau đó sẽ lựa chọn nhà cung cấp đáng tin cậy để mua thuốc thiết yếu. Đối với nhà cung cấp mới có thể thử mua các thuốc không thiết yếu trước.
5 Về sử dụng thuốc: Theo dõi kiểm soát sử dụng thuốc, đưa ra các kiến nghị về sử dụng thuốc V và E, xem xét lại vấn đề sử dụng quá nhiều các thuốc không thiết yếu. Về dự trữ: chú ý đặc biệt lưu trữ các thuốc V, E có một lượng tồn kho an toàn nhất định, tránh trường hợp thiếu thuốc. Nhược điểm: Việc xếp loại các thuốc thuộc vào nhóm N thường dễ dàng nhưng lại khó khăn khi phân biệt các thuốc nhóm V và E. Phân tích VEN muốn áp dụng được cần phải có sự đồng thuận cao của các thành viên trong HĐT&ĐT, có sự khác nhau về mức độ cần thiết giữa bệnh viện chuyên khoa với đa khoa, giữa các bệnh viện đa khoa với nhau (các đầu ngành chuyên khoa khác nhau).
Phương pháp phân tích ma trận ABC/VEN Phân tích ABC kết hợp với phân tích VEN để xác định mối quan hệ giữa thuốc có chi phí cao nhưng có độ ưu tiên thấp, để hạn chế hoặc xóa bỏ thuốc nhóm “N” nhưng chi phí thuộc nhóm A. Sự kết hợp phân tích ABC, VEN tạo thành ma trận ABC/VEN. Ma trận ABC/VEN Ma trận A B C Ý nghĩa V AV BV CV Thuốc quan trọng nhất E AE BE CE Thuốc quan trọng N AN BN CN Thuốc ít quan trọng Chú thích: chữ cái đầu hàng ngang biểu thị trong phân tích ABC, chữ cái đầu hàng dọc biểu thị phân tích VEN Việc phân tích ABC/VEN đã được đưa vào thông tư số 21/2013/TT- BYT ban hành ngày 08/08/2013 của Bộ Y tế là một trong những phương pháp phân tích để phát hiện vấn đề sử dụng thuốc và là bước đầu tiên trong quy trình xây dựng DMTBV, cung cấp cho HĐT & ĐT dữ liệu quan trọng để quyết định thuốc nào nên loại khỏi DMT, thuốc nào cần thiết và thuốc nào ít quan trọng hơn [7]. Thực trạng sử dụng thuốc ở các bệnh viện tuyến huyện tại Việt Nam 1.
Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng tại một số bệnh viện ở Việt Nam hiện nay 1. Thực trạng thuốc sử dụng theo nguồn gốc thuốc hóa dược, thuốc dược liệu Kết quả khảo sát tại một số bệnh viện tuyến huyện và trung tâm y tế, thuốc hóa dược chiếm tỷ trọng lớn trong DMT sử dụng, thuốc có nguồn gốc dược liệu chiếm tỷ trọng thấp. Nghiên cứu tại một số bệnh viện, trung tâm y tế cho kết quả như sau: Bảng 2. Kết quả về cơ cấu thuốc sử dụng theo nguồn gốc thuốc hóa dược, thuốc dược liệu tại một số bệnh viện tuyến huyện Thuốc hóa Thuốc dược Bệnh viện/ Số dược liệu STT năm nghiên cứu KM % % % % KM GTSD KM GTSD BVĐK huyện Đông Hưng 1 348 95,7 96,0 4,3 4,0 tỉnh Thái Bình 2021[22] TTYT huyện Khoái Châu, 2 242 93,39 96,43 6,61 3,57 tỉnh Hưng Yên 2021[19] TTYT huyện Tân Yên tỉnh 3 290 95,17 93,04 4,83 6,96 Bắc Giang 2019[18] BVĐK huyện Đan 4 Phượng thành phố Hà Nội 293 94,54 93,87 5,46 6,13 2018[21] Thuốc hóa dược được sử dụng chủ yếu ở một số bệnh viện tuyến huyện.
Cụ thể, tỉ lệ SKM và GTSD của thuốc hóa dược tại 2 bệnh viện và 2 trung tâm y tế dao động từ 93% đến 96%. Thực trạng thuốc sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý Tùy thuộc vào mô hình bệnh tật của từng bệnh viện mà nhu cầu sử dụng các nhóm thuốc là khác nhau. Tuy nhiên, qua kết quả nghiên cứu tại phần lớn bệnh viện tuyến huyện, trung tâm y tế cho thấy nhóm thuốc điều trị kí sinh trùng, chống nhiễm khuẩn; nhóm thuốc tim mạch, nhóm hormon và các thuốc tác động vào hệ nội tiết 7 luôn chiếm tỉ trọng cao hơn trong DMT sử dụng. Tổng hợp kết quả nghiên cứu tại một số bệnh viện cho kết quả như sau: Bảng 3.
Tỷ lệ sử dụng thuốc nhóm ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn tại một số bệnh viện tuyến huyện Số % GTSD % STT Bệnh viện/năm nghiên cứu KM KM (VND) GTSD BVĐK huyện Đông Hưng tỉnh 1 73 21 3.000 32,5 Thái Bình năm 2021[22] TTYT huyện Khoái Châu, tỉnh 2 37 15,29 2.000 12,62 Hưng Yên năm 2021[19] TTYT huyện Tân Yên tỉnh Bắc 3 48 17,75 4.000 26,36 Giang năm 2019[18] BVĐK huyện Đan Phượng 4 52 17,75 8.000 39,96 thành phố Hà Nội năm2018[21] Về số lượng khoản mục nhóm ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn dao động từ 15% đến 21% SKM; GTSD dao động từ 12% đến 40%.