ĐẶT VẤN ĐỀ Thuốc là một loại hàng hóa đặc biệt để bảo vệ tính mạng và nâng cao sức khoẻ cho bệnh nhân. Chi phí ngày càng tăng và thiếu nguồn nhân lực thường khiến cho hệ thống y tế không có đủ khả năng để cung ứng số lượng thuốc cần thiết đáp ứng nhu cầu điều trị của bệnh nhân. Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế mức chi tiền thuốc tính theo bình quân đầu người liên tục tăng trưởng dương và ổn định. Năm 2017, tiền thuốc chi cho đầu người khoảng 56 USD và dự báo con số này sẽ còn tăng lên với mức tăng ít nhất 14% cho tới năm 2025 [1].
Năm 2013 ở nước ta, chi phí tiền thuốc chỉ 33 USD/người trong khi trên thế giới là 180 USD/người, so với các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản và Canada, mức tiêu thụ thuốc bình quân đầu người là 800 USD/người/năm [2]. Bệnh viện là cơ sở khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, nên mô hình bệnh tật càng phức tạp, mức độ nặng của người bệnh ảnh hưởng trực tiếp tới việc sử dụng thuốc. Ngoài ra, kỹ thuật điều trị, kinh nghiệm, đạo đức và trình độ chữa bệnh của thầy thuốc cũng ảnh hưởng tới việc kê đơn thuốc điều trị cho người bệnh [3]. Do vậy, chi phí tiền thuốc cho người bệnh cơ bản được thông qua hệ thống cơ sở y tế điều trị bệnh tật.
Để đảm bảo chất lượng khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe người bệnh đòi hỏi việc cung ứng thuốc đầy đủ, kịp thời, đảm bảo chất lượng và hợp lý đóng vai trò hết sức quan trọng. Một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định đến công tác cung ứng thuốc chính là hoạt động sử dụng thuốc, đặc biệt là sử dụng thành công danh mục thuốc trúng thầu với chi phí hợp lý nhất của bệnh viện. Hiện nay trên thế giới, các bệnh viện đều cung ứng thuốc để sử dụng với những cơ cấu phù hợp với tiêu chí của danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện đó. Nhìn chung, các tiêu chí của danh mục thuốc sử dụng tại Việt Nam như cơ cấu thuốc đã sử dụng (khoản mục và giá trị) theo nhóm tác dụng dược lý, theo thành phần, theo biệt dược gốc và thuốc generic, theo đường dùng, theo phân tích ma trận ABC/VEN.
1 Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu về danh mục thuốc đã sử dụng đều dựa trên các tiêu chí nói trên [4], [5], [6] …. Trong đó, một số nghiên cứu đã chỉ ra tồn tại và nguyên nhân tồn tại của danh mục thuốc đã sử dụng dựa trên các tiêu chí nêu trên [6], [7], [8]. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu chưa phân tích sâu về các nguyên nhân liên quan tới chẩn đoán bệnh dựa trên các chỉ số sinh hóa, kháng sinh đồ, kê đơn của thầy thuốc.… Bệnh viện đa khoa Đống Đa là Bệnh viện đa khoa hạng II thuộc thành phố Hà Nội. Mỗi năm bệnh viện khám và điều trị cho hàng trăm ngàn lượt bệnh nhân với số lượng và giá trị tiền thuốc rất lớn.
Cho đến nay, chưa có một nghiên cứu nào về danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện. Do đó, việc đánh giá hiệu quả sử dụng, chỉ ra những bất cập, tồn tại về danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện là hết sức cần thiết và mang tính thực tiễn. Đề tài: “Phân tích danh mục thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện đa khoa Đống Đa thành phố Hà Nội năm 2022” được thực hiện với 2 mục tiêu: 1. Mô tả cơ cấu thuốc đã sử dụng của Bệnh viện Đa khoa Đống Đa, thành phố Hà Nội năm 2022.
Phân tích những vấn đề tồn tại trong danh mục thuốc đã sử dụng của Bệnh viện Đa khoa Đống Đa, thành phố Hà Nội năm 2022. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần phản ánh được thực trạng hoạt động sử dụng thuốc của Bệnh viện đa khoa Đống Đa thành phố Hà Nội năm 2022, trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp xây dựng danh mục thuốc hợp lý góp phần ngày càng nâng cao hiệu quả trong hoạt động đầu thầu và sử dụng thuốc cho Bệnh viện đa khoa Đống Đa thành phố Hà Nội trong những năm tiếp theo. Danh mục thuốc đã sử dụng và phương pháp phân tích sử dụng thuốc 1. Danh mục thuốc đã sử dụng Khái niệm Danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện (DMT) là một danh sách các thuốc đã được sử dụng thực tế hằng năm tại bệnh viện.
Mỗi bệnh viện sẽ xây dựng một danh mục thuốc đặc thù riêng cho mình, Hội đồng thuốc và điều trị (HĐT&ĐT) có chức năng tư vấn cho giám đốc bệnh viện về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị bằng thuốc của bệnh viện, thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện [9]. Hội đồng thuốc và điều trị đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng DMT bệnh viện, sự lựa chọn thuốc để mua sắm, sử dụng cho người bệnh theo nguyên tắc: ưu tiên lựa chọn thuốc generic, thuốc đơn chất, thuốc sản xuất trong nước [9]. Việc phân tích danh mục thuốc đã sử dụng là để chỉ ra những bất cập và nguyên nhân của DMT bệnh viện, sự lựa chọn thuốc để mua sắm, sử dụng cho người bệnh theo nguyên tắc: ưu tiên lựa chọn thuốc generic, thuốc đơn chất, thuốc sản xuất trong nước [9]. Từ đó giúp cho các nhà quản lý kịp thời điều chỉnh hoạt động cung ứng thuốc của các bệnh viện được tốt hơn.
Các phương pháp phân tích sử dụng thuốc Sử dụng thuốc không hợp lý là vấn đề được quan tâm trên toàn cầu vì những hậu quả nghiêm trọng mà nó mang lại như làm tăng đáng kể chi phí cho hoạt động chăm sóc sức khỏe, giảm chất lượng điều trị, tăng nguy cơ xảy ra các phản ứng có hại của thuốc. Trong các bệnh viện, HĐT&ĐT với nhiệm vụ tư vấn cho Giám đốc bệnh viện về việc sử dụng thuốc nhằm mục đích đảm bảo thuốc được sử dụng một cách hiệu quả, an toàn, hợp lý và kinh tế. Để quản lý được việc sử dụng thuốc một cách hiệu quả cần có các phương pháp phân tích dữ liệu và tổng hợp thông tin về thuốc. Từ những kết quả thu được, HĐT&ĐT sẽ có 3 những biện pháp thích hợp nhằm quản lý và phát hiện ra các vấn đề về sử dụng thuốc.
Để phân tích hoạt động sử dụng thuốc trong bệnh viện Hội đồng thuốc cần áp dụng các phương pháp như: Phân tích ABC, phân tích nhóm điều trị, phân tích VEN, phân tích theo liều xác định trong ngày - DDD (Defined Daily Dose) và giám sát các chỉ số dùng thuốc [9]. Phân tích nhóm điều trị Phân tích nhóm điều trị là phương pháp dựa vào đánh giá số lượng và giá trị tiền thuốc sử dụng của các nhóm tác dụng dược lý. Phương pháp này sử dụng dữ liệu thống kê chi phí sử dụng, phần trăm chi phí của từng thuốc sử dụng trên tổng chi phí sử dụng thuốc của toàn viện. Sau đó phân loại nhóm điều trị cho từng thuốc: phân loại này này có thể dựa vào phân loại DMT thiết yếu của Tổ chức Y tế thế giới hoặc theo các tài liệu tham khảo khác như hệ thống phân loại Dược lý - Điều trị của hiệp hội Dược thư bệnh viện của Mỹ (AHFS) hoặc hệ thống phân loại Giải phẫu - Điều trị - Hóa học (ATC) của Tổ chức Y tế thế giới.
Tại Việt Nam hiện nay, quy trình phân tích nhóm điều trị được thực hiện theo thông tư 21/2013/TT-BYT của Bộ Y tế [9]. Phân tích nhóm điều trị giúp: + Xác định những nhóm điều trị có mức tiêu thụ thuốc cao nhất với chi phí nhiều nhất. + Xác định những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý trên cơ sở thông tin và tình hình bệnh tật. + Xác định những thuốc đã bị lạm dụng hoặc những thuốc mà mức tiêu thụ không mang tính đại diện cho những ca bệnh cụ thể như sốt rét hay sốt xuất huyết.
+ HĐT&ĐT lựa chọn những thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và thuốc lựa chọn trong liệu pháp điều trị thay thế. 4 Từ đó tiến hành phân tích cụ thể hơn cho mỗi nhóm điều trị chi phí cao để xác định những thuốc có đơn giá cao và liệu pháp điều trị thay thế có chi phí thấp nhưng mang lại hiệu quả cao [9]. Phân tích ABC Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách cho thuốc của bệnh viện [9]. Phân tích ABC có thể sử dụng số liệu về thuốc cho chu kỳ trên 1 năm hoặc ngắn hơn.
Sau khi phân tích, các thuốc (nhất là thuốc thuộc hạng A) cần được đánh giá lại và xem xét việc sử dụng những thuốc không có trong danh mục và thuốc đắt tiền, trên cơ sở đó lựa chọn những phác đồ điều trị có hiệu lực tương đương nhưng có chi phí thấp hơn. Ưu điểm chính của phân tích ABC là giúp xác định xem phần lớn nguồn ngân sách được chi trả cho những thuốc nào. Thông thường thuốc hạng A chiếm khoảng 10 - 20% tổng số thuốc, thuốc hạng B chiếm khoảng 10 - 20% tổng số thuốc và thuốc hạng C chiếm khoảng 60 - 80% [9]. Phương pháp phân tích ABC dùng để xác định và so sánh chi phí y tế trong hệ thống danh mục thuốc, qua đó sẽ cung cấp thông tin cơ bản để giảm thiểu chi phí và phân tích chi phí - hiệu quả.
Phân tích ABC cho thấy những thuốc được sử dụng thay thế với lượng lớn mà có chi phí thấp trong danh mục hoặc có sẵn trên thị trường. Từ kết quả phân tích thông tin thu được có thể được sử dụng để: + Lựa chọn hoặc thay thế các thuốc có chi phí thấp hơn. + Tìm ra những liệu pháp điều trị thay thế. + Thương lượng với nhà cung ứng hoặc đấu thầu thuốc để mua được thuốc với giá thấp hơn.
5 + Lượng giá mức độ tiêu thụ thuốc, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng để từ đó phát hiện những điểm chưa hợp lý trong sử dụng thuốc bằng cách so sánh lượng thuốc tiêu thụ với mô hình bệnh tật. + Xác định phương thức mua thuốc không có trong DMT thiết yếu của bệnh viện. Kết quả phân tích ABC sẽ là cơ sở khoa học để lãnh đạo bệnh viện, HĐT&ĐT và lãnh đạo các đơn vị trong bệnh viện để ra những chính sách, qui chế,. để quản lý và sử dụng hợp lý nhất các thuốc hạng A.