ĐẶT VẤN ĐỀ Theo nhận định của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2011, thực trạng sử dụng thuốc bất hợp lý đang là vấn đề rất nghiêm trọng, mang tính toàn cầu [21]. Một số hậu quả điển hình của việc sử dụng thuốc bất hợp lý là nguy cơ gia tăng các biến cố có hại của thuốc không đáng có, gia tăng tính kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh, tăng tỷ lệ nhập viện cũng như tỷ lệ tử vong và gia tăng gánh nặng kinh tế [22]. Điều này dẫn đến việc giảm chất lượng chăm sóc sức khỏe đồng thời giảm uy tín của các bệnh viện. Tại Việt Nam, với chính sách mở cửa theo cơ chế đa dạng hóa các loại hình cung ứng, thị trường thuốc ngày càng phong phú cả về số lượng và chủng loại.
Điều này khiến cho việc cung ứng thuốc nói chung và cung ứng trong bệnh viện nói riêng trở nên dễ dàng, thuận tiện hơn. Tuy nhiên, nó cũng gây ra nhiều khó khăn, lúng túng trong việc lựa chọn danh mục thuốc sử dụng. Để hạn chế tình trạng trên, Bộ Y tế đã ban hành thông tư 21/2013/TT- BYT quy định về tổ chức hoạt động của Hội đồng Thuốc và điều trị trong bệnh viện [8]. Hội đồng có chức năng tư vấn cho giám đốc bệnh viện về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị nhằm thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện.
Một trong các nhiệm vụ chính của Hội đồng Thuốc và điều trị là xây dựng danh mục thuốc dùng trong bệnh viện đáp ứng được hiệu quả điều trị với chi phí thấp nhất. Một danh mục thuốc được xây dựng tốt không những giúp tiết kiệm chi phí, sử dụng hợp lý nguồn tài chính mà còn giúp nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe tại bệnh viện. Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định là bệnh viện chuyên khoa hạng III tuyến tỉnh, chịu trách nhiệm khám, chữa bệnh cho người bệnh tâm thần và công tác chỉ đạo tuyến cho các cơ sở tuyến dưới chuyên khoa tâm thần. Do đó đòi hỏi các hoạt động liên quan đến người bệnh luôn phải sẵn sàng và đảm bảo chất lượng.
Một trong những vấn đề quan trọng thiết yếu để giải quyết mục tiêu đó là hoạt động cung ứng thuốc nhằm đáp ứng nhu cầu điều trị. Tuy nhiên, để đảm 1 bảo cung ứng thuốc tốt, đầu tiên phải có một danh mục thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả, đây chính là tiền đề cơ bản và quan trọng nhất. Thực tế việc xây dựng danh mục thuốc bệnh viện còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu dựa vào danh mục thuốc sử dụng năm trước do thiếu thông tin phân tích dữ liệu về sử dụng thuốc để làm căn cứ. Với mong muốn tìm hiểu thực trạng sử dụng thuốc hiện nay tại bệnh viện thế nào? Các thuốc lựa chọn đã hợp lý chưa? Danh mục thuốc có đáp ứng nhu cầu điều trị hay không? Chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định năm 2021” với các mục tiêu sau: 1.
Mô tả cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định năm 2021. Phân tích danh mục thuốc sử dụng theo phương pháp ABC, VEN và ma trận ABC/VEN. Mục đích của đề tài là tìm ra những điểm hợp lý, chưa hợp lý, vấn đề phát sinh, đưa ra một số kiến nghị giúp Hội đồng Thuốc và điều trị của bệnh viện xây dựng, lựa chọn danh mục thuốc những năm tiếp theo đáp ứng nhu cầu sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả. Danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện 1.
Khái niệm danh mục thuốc Danh mục thuốc (DMT) là một danh sách các thuốc được sử dụng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe và bác sĩ sẽ kê đơn các thuốc trong danh mục này. DMT của bệnh viện là một danh sách các thuốc đã được lựa chọn và phê duyệt để sử dụng trong bệnh viện [1][2]. DMT bệnh viện được xây dựng tốt sẽ mang lại những lợi ích sau [8][2]: - Loại bỏ được các thuốc không an toàn và kém hiệu quả, từ đó có thể giảm được số ngày nằm viện đồng thời giảm tỷ lệ bệnh tật và tử vong. - Giảm số lượng và chi phí mua thuốc; sử dụng chi phí tiết kiệm được để mua các thuốc có chất lượng tốt, an toàn và hiệu quả hơn.
Mỗi bệnh viện có DMT khác nhau, được xây dựng hàng năm theo nhu cầu điều trị hợp lý của các khoa lâm sàng. Xây dựng danh mục phù hợp sẽ góp phần rất lớn trong công tác điều trị, quản lý của bệnh viện. Một danh mục thuốc có quá nhiều thuốc không cần thiết sẽ dẫn đến sử dụng lãng phí nguồn kinh phí của nhà nước cũng như của bệnh nhân. Các loại thuốc sử dụng điều trị bệnh tâm thần 1.
Khái niệm về bệnh tâm thần Bệnh tâm thần là những bệnh do hoạt động của não bộ bị rối loạn mà gây nên những biến đổi bất bình thường trong ý nghĩ, cảm xúc, hành vi, tác phong, suy luận, ý thức người bệnh [20]. Phân loại bệnh tâm thần Theo bảng phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD X), có khoảng 300 dạng tật chứng, rối loạn tâm lý - tâm thần [3]. Các nhóm bệnh thường gặp: 3 Bảng 1. Các nhóm bệnh tâm thần phân loại theo ICD TT Nhóm bệnh Mã ICD Rối loạn tâm thần thực tổn bao gồm rối loạn tâm thần 1 F00-F09 triệu chứng Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng chất tác động 2 F10-F19 tâm thần Tâm thần phân liệt, rối loạn loại phân liệt và các rối loạn 3 F20-F29 hoang tưởng 4 Rối loạn khí sắc (cảm xúc) F30-F39 Các rối loạn bệnh tâm căn có liên quan đến stress và rối 5 F40-F48 loạn dạng cơ thể Hội chứng hành vi kết hợp với rối loạn sinh lý và nhân tố 6 F50-F59 cơ thể 7 Rối loạn nhân cách và hành vi ở người trưởng thành F60-F69 8 Chậm phát triển tâm thần F70-F84 9 Các rối loạn về phát triển tâm lý F80-F89 Các rối loạn hành vi và cảm xúc thường khởi phát ở tuổi 10 F90-F98 trẻ em và thanh thiếu niên 11 Rối loạn tâm thần không biệt định F99 12 Động kinh G40 4 1.
Các loại thuốc sử dụng điều trị bệnh tâm thần Bảng 1. Thuốc sử dụng điều trị bệnh tâm thần Tên thuốc TT Nhóm thuốc Cổ điển Thế hệ mới Clopromazin, Olanzapine, risperidone, Thuốc chống levomepromazin, 1 quetiapine, paliperidone, loạn thần haloperidol, sulpirid, amisulpiride … thioridazin… Thuốc chống Amitriptyline. Fluoxetin, paroxetin, 2 trầm cảm sertraline, mirtazapine. Phenobarbital, Thuốc kháng phenytoin, Gabapentin, topiramate, 3 động kinh carbamazepin, acid oxcarbazepine.
4 Thuốc giải lo âu Diazepam. Một số văn bản pháp quy liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu đề tài Luật Dược số 105/2016/QH13 ngày 06 tháng 4 năm 2016. Nghị định số 54/2017/NĐ-CP ngày 08 tháng 5 năm 2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật Dược. Thông tư số 22/2011/TT-BYT ngày 10 tháng 6 năm 2011 của Bộ Y tế quy định tổ chức và hoạt động của khoa dược bệnh viện.
Quy định đầy đủ các hoạt động của khoa Dược từ khâu nhập thuốc, bảo quản, xuất thuốc, thống kê sử dụng thuốc, quản lý thuốc tại các khoa lâm sàng. Thông tư số 23/2011/TT-BYT ngày 10 tháng 6 năm 2011 của Bộ Y tế hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh. Trong đó có hướng dẫn về việc ưu tiên sử dụng thuốc đường uống, hạn chế sử dụng thuốc 5 đường tiêm để an toàn và giảm chi phí cho người bệnh mà vẫn đảm bảo hiệu quả điều trị bệnh. - Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 8 tháng 8 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Thông tư quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thuốc và điều trị trong bệnh viện.
Đưa ra các tiêu chí lựa chọn thuốc trong xây dựng danh mục thuốc bệnh viện: ưu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn chất; ưu tiên lựa chọn thuốc generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế, hạn chế tên biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể; Hướng dẫn sử dụng các phương pháp phân tích danh mục thuốc như: phương pháp phân tích ABC, phương pháp phân tích VEN, phương pháp phân tích nhóm điều trị. Thông tư số 05/2015/TT-BYT ngày 17 tháng 3 năm 2015 của Bộ Y tế ban hành Danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế. Thông tư số 06/2017/TT-BYT ngày 03 tháng 5 năm 2017 của Bộ Y tế ban hành Danh mục thuốc độc và nguyên liệu độc làm thuốc. Thông tư số 20/2017/TT-BYT ngày 10 tháng 5 năm 2017 của Bộ Y tế ban hành Quy định một số điều của Luật Dược và nghị định số 54/2017/NĐ- CP của chính phủ về thuốc và nguyên liệu làm thuốc phải kiểm soát đặc biệt.
Thông tư số 30/2018/TT-BYT ngày 30 tháng 10 năm 2018 của Bộ Y tế về việc ban hành Danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán các thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế. Thông tư số 15/2019/TT-BYT ngày 11 tháng 7 năm 2019 của Bộ Y tế ban hành quy định việc đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập. Thông tư số 20/2022/TT-BYT ngày 31 tháng 12 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Thông tư ban hành Danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc 6 phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế. Có hiệu lực từ 01/3/2023, thay thế cho Thông tư số 30/2018/TT-BYT.
Một số phương pháp phân tích việc sử dụng thuốc 1. Phương pháp phân tích nhóm điều trị ❖ Khái niệm Phương pháp phân tích nhóm điều trị là phương pháp phân tích việc sử dụng thuốc dựa vào đánh giá số lượng sử dụng và giá trị tiền thuốc của các nhóm điều trị [8]. ❖ Vai trò - Giúp xác định các nhóm điều trị có lượng tiêu thụ, chi phí cao nhất. - Trên cơ sở thông tin về mô hình bệnh tật (MHBT), xác định những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý, xác định những thuốc bị lạm dụng hoặc mức tiêu thụ không mang tính đại diện.
- Giúp HĐT&ĐT lựa chọn các thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và lựa chọn thuốc cho các liệu pháp điều trị thay thế. ❖ Ý nghĩa Phương pháp phân tích nhóm điều trị giúp xác định những nhóm điều trị có mức tiêu thụ thuốc cao nhất và chi phí nhiều nhất. Trên cơ sở thông tin về tình hình bệnh tật, xác định những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý.