ĐẶT VẤN ĐỀ Tại Việt Nam, Chính sách Quốc gia về thuốc đã đề ra mục tiêu rõ ràng cung ứng đủ thuốc cho nhu cầu phòng bệnh, chữa bệnh của nhân dân với chất lượng bảo đảm, giá hợp lý và sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả [1]. Tuy nhiên, hiện nay, một số vấn đề các bệnh viện phải đối mặt gồm lạm dụng kháng sinh, tăng kháng kháng sinh, tăng phản ứng có hại của thuốc (ADR) và việc sử dụng quá nhiều thuốc nhập khẩu, thuốc biệt dược gốc (BDG) có giá cao. Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế mức chi tiền thuốc bình quân đầu người tại Việt Nam liên tục tăng trưởng dương và ổn định. Thị trường thuốc phong phú đa dạng về số lượng và chủng loại, năm 2015 có 905 hoạt chất với 19.704 số đăng ký thuốc lưu hành, điều đó giúp cho việc cung ứng dễ dàng nhưng cũng gây khó khăn cho lựa chọn và sử dụng thuốc [2].
Vấn đề đặt ra cho các cơ sở khám chữa bệnh là cần xây dựng một danh mục thuốc phù hợp đáp ứng nhu cầu điều trị nhưng cũng cần đảm bảo cân bằng giữa hiệu quả điều trị, hiệu quả kinh tế. Để có danh mục thuốc tốt các bệnh viện cần thu thập, phân tích tình hình sử dụng các năm trước làm căn cứ bổ sung hoặc loại bỏ các thuốc mới một cách khoa học. Sau khi đã xây dựng được danh mục thuốc (DMT) bệnh viện, một trong những yếu tố hàng đầu quyết định đến công tác cung ứng thuốc chính là sử dụng thành công danh mục thuốc trúng thầu của bệnh viện. Bệnh viện Quân y 5 trực thuộc Cục hậu cần Quân khu 3 là là bệnh viện đa khoa hạng II với quy mô trên 400 giường bệnh, thu dung điều trị nhiều mặt bệnh đa dạng cho cán bộ, chiến sĩ, nhân dân của tỉnh Ninh Bình và các địa phương lân cận và phần nào đó đã góp phần quan trọng trong việc giảm tình trạng quá tải cho các bệnh viện tuyến trên.
Năm 2022 bệnh viện khám và điều trị 39.473 lượt bệnh nhân ngoại trú và 9.126 lượt bệnh nhân nội trú trong đó tiền thuốc đã sử dụng chiếm 31,91% tổng chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế. Với việc sử dụng một số lượng lớn thuốc để phục vụ công tác khám chữa bệnh và hoạt động lựa chọn thuốc tại bệnh viện đã đạt được nhiều kết quả song cũng không tránh khỏi những mặt hạn chế. Để tìm ra những vấn đề bất cập thì việc phân tích, đánh giá danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện là rất cần thiết để phản ánh thực trạng và góp phần nâng cao chất lượng công tác khám chữa bệnh nói chung và nâng cao công tác quản lý sử dụng thuốc 1 nói riêng. Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Quân y 5 – Quân khu 3 năm 2022’’ với 02 mục tiêu: 1.
Phân tích cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện Quân y 5 – Quân khu 3 năm 2022. Xác định một số vấn đề tồn tại và nguyên nhân trong danh mục thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện Quân y 5 – Quân khu 3 năm 2022. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp những chứng cứ khoa học về thực trạng danh mục thuốc đã sử dụng tại bệnh viện năm 2022, từ những kết quả đó xác định được một số vấn đề và tìm ra nguyên nhân. Từ đó đóng góp ý kiến với Hội đồng thuốc và điều trị có những thay đổi phù hợp cho những năm tiếp theo để đáp ứng yêu cầu sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả, đảm bảo cung ứng góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng trong công tác khám, chữa bệnh tại bệnh viện.
Danh mục thuốc đã sử dụng trong bệnh viện và một số phương pháp phân tích danh mục thuốc 1. Danh mục thuốc đã sử dụng trong bệnh viện Theo WHO “Danh mục thuốc bệnh viện là danh sách các thuốc đã được lựa chọn và phê duyệt để sử dụng trong bệnh viện” [3]. Phân tích danh mục thuốc sử dụng có thể đưa ra những nhận xét, đánh giá nhằm loại bỏ được những thuốc không an toàn và kém hiệu quả, từ đó giảm được số ngày điều trị đồng thời giảm tỉ lệ bệnh tật và tử vong; giảm số lượng và chi phí mua thuốc, sử dụng chi phí tiết kiệm được để mua các thuốc chất lượng tốt hơn, an toàn và hiệu quả hơn, giúp bệnh viện tập trung vào các hoạt động cung cấp thông tin thuốc và đào tạo liên tục cho cán bộ, nhân viên [4]. Danh mục thuốc sử dụng phải đảm bảo các nguyên tắc và tiêu chí như sau: * Nguyên tắc xây dựng danh mục - Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị trong bệnh viện; - Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật; - Căn cứ vào các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã được xây dựng và áp dụng tại bệnh viện hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; - Đáp ứng với các phương pháp mới, kỹ thuật mới trong điều trị; - Phù hợp với phạm vi chuyên môn bệnh viện; - Thống nhất với danh mục thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu do Bộ Y tế ban hành; - Ưu tiên thuốc sản xuất trong nước [5], [6].
Các văn bản pháp luật liên quan đến thuốc đã sử dụng trong bệnh viện Trong những năm qua, Quốc hội ban hành (Luật dược 105/2016QH13, Luật đấu thầu 2013) và Chính Phủ ban hành (Nghị định 54/2017/NĐ-CP) Bộ Y tế đã có nhiều biện pháp cụ thể hóa bằng các thông tư nhằm cải thiện chất lượng quản lý, sử dụng DMT. 3 * Các văn bản liên quan đến Tổ chức hoạt động của khoa Dược, HĐT&ĐT: - Thông tư 22/2011/TT-BYT: Quy định tổ chức và hoạt động của khoa Dược bệnh viện, chức trách, nhiệm vụ của các chức danh trong khoa Dược bệnh viện đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng và tư vấn, giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp lý [7]. - Thông tư 21/2013/TT-BYT: Quy định tổ chức, hoạt động, chức năng và nhiệm vụ của HĐT&ĐT. HĐT&ĐT đóng vai trò điều phối, xử lý các vấn đề sử dụng thuốc trong đó quan trọng nhất là xây dựng và quản lý DMT bệnh viện.
Trong nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc quy định ưu tiên thuốc sản xuất trong nước và tiêu chí lựa chọn thuốc ưu tiên ở dạng đơn chất [5]. * Các văn bản liên quan đến danh mục thuốc, danh mục thuốc thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế: - Thông tư 05/2015/TT-BYT: Ban hành danh mục thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế. Danh mục thuốc được sắp xếp thành 11 nhóm theo y lý y học cổ truyền và danh mục vị thuốc bao gồm 349 vị thuốc cây, con, khoáng vật làm thuốc được sắp xếp thành 30 nhóm theo y lý y học cổ truyền [8]. - Thông tư 03/2019/TT-BYT ngày 28/3/2019 Ban hành danh mục thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp [9].
- Thông tư 19/2018/TT-BYT về xây dựng danh mục thuốc thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế; làm cơ sở để Hội đồng thuốc và điều trị xây dựng danh mục thuốc sử dụng trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phê duyệt; làm cơ sở để xây dựng danh mục thuốc đấu thầu, danh mục thuốc đấu thầu tập trung, danh mục thuốc được áp dụng hình thức đàm phán giá và toàn bộ thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền, vị thuốc cổ truyền thiết yếu ban hành kèm theo Thông tư này [10]. - Thông tư 30/2018/TT-BYT về danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế. Thông tư quy định về 1030 thuốc tân dược phân thành 27 nhóm tác dụng dược lý nằm trong phạm vi thanh toán quỹ BHYT [11]. 4 * Các văn bản liên quan đến điều kiện, phương thức đấu thầu thuốc: - Thông tư 15/2019/TT-BYT quy định việc đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập với cụ thể hóa việc đấu thầu thuốc, vị thuốc và các cách thức đấu thầu, phân loại đấu thầu… nhằm minh bạch hóa và nâng cao hiệu quả của công tác đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập.
Thông tư quy định số lượng thuốc sử dụng nằm trong khoảng 80- 120% so với số lượng thuốc trúng thầu. Đối với thuốc cấp cứu, thuốc giải độc, thuốc hiếm, thuốc kiểm soát đặc biệt, dịch truyền bảo đảm thực hiện 50-120% so với số lượng thuốc trúng thầu [12]. - Thông tư 15/2020/TT-BYT Ban hành danh mục thuốc đấu thầu, danh mục thuốc đấu thầu tập trung, danh mục thuốc được áp dụng hình thức đàm phán giá với nội dung sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 15/2019/TT-BYT ngày 11 tháng 07 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập [13]. - Thông tư 05/2021/TT-BQP ngày 12/01/2021 của Bộ Quốc phòng quy định một số nội dung về đấu thầu lựa chọn nhà thầu trong phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng [14].
* Văn bản liên quan đến sử dụng thuốc: - Thông tư 23/2011/TT-BYT về hướng dẫn sử dụng thuốc bao gồm các nội dung chính như thầy thuốc chỉ định thuốc hợp lý, không lạm dụng thuốc; bệnh nhân chỉ dùng đường tiêm khi không uống được hoặc khi sử dụng thuốc theo đường uống không đáp ứng yêu cầu điều trị; khoa Dược tổ chức cấp phát thuốc bảo đảm chất lượng; quản lý, bảo quản thuốc tại khoa lâm sàng [15]. - Quyết định số 5631/QĐ-BYT của Bộ Y tế về việc ban hành tài liệu Hướng dẫn thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện [16]. Một số phương pháp phân tích sử dụng thuốc Chi phí chăm sóc sức khỏe tăng nhanh và bất hợp lý có thể do chi phí cho thuốc chiếm tỉ trọng cao. Để giải quyết các vấn đề về sử dụng thuốc tránh những bất cập, nhà quản lý cần điều tra, nghiên cứu tình hình sử dụng và cần có những biện pháp can thiệp kịp thời.
HĐT&ĐT có chức năng quản lý, tham mưu và tư vấn giám sát về các vấn đề liên quan đến DMT sử dụng tại bệnh viện. Sau đây là một số phương pháp phân tích sử dụng thuốc hiện nay HĐT&ĐT nên áp dụng thường xuyên. Phân tích sử dụng thuốc theo nhóm điều trị *Khái niệm Phân tích nhóm điều trị là phương pháp dựa vào đánh giá số lượng và giá trị tiền thuốc sử dụng của các nhóm tác dụng dược lý.