Tổng quan nghiên cứu

Năm 2020, Bệnh viện Đa khoa huyện Nho Quan tiếp nhận 56.914 lượt khám bệnh và điều trị nội trú cho 8.929 bệnh nhân, với tổng chi phí tiền thuốc sử dụng thực tế đạt 12.753 triệu đồng, chiếm gần 40% tổng chi thường xuyên của toàn đơn vị. Trong bối cảnh bệnh viện bắt đầu thực hiện cơ chế tự chủ tài chính từ năm 2019 và triển khai Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện theo Quyết định 6858/QĐ-BYT, việc xây dựng và quản trị danh mục thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả trở thành nhiệm vụ sống còn. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là đánh giá tính phù hợp của việc phân bổ ngân sách dược dụng so với mô hình bệnh tật thực tế tại cơ sở y tế tuyến huyện hạng II.

Mục tiêu cụ thể của đề tài gồm hai nội dung chính: thứ nhất, mô tả cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Đa khoa huyện Nho Quan năm 2020 theo các chỉ tiêu phân loại dược lý, nguồn gốc xuất xứ, dạng đơn chất - đa thành phần và đường dùng; thứ hai, phân tích danh mục thuốc thông qua phương pháp ABC, VEN và ma trận kết hợp ABC/VEN nhằm phát hiện những điểm bất hợp lý trong phân bổ chi phí. Nghiên cứu bao quát toàn bộ 296 khoản mục thuốc xuất dùng từ ngày 01/01/2020 đến 31/12/2020 tại bệnh viện. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng giúp Hội đồng Thuốc và Điều trị tái cơ cấu danh mục, giảm tỷ trọng chi phí nhóm thuốc không thiết yếu (nhóm N hiện chiếm 15,4% ngân sách) và duy trì tỷ lệ thuốc sản xuất trong nước trên 75% chi phí, góp phần tiết kiệm hàng trăm triệu đồng cho quỹ bảo hiểm y tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng các văn bản quy phạm pháp luật và hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế, bao gồm Thông tư 21/2013/TT-BYT quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thuốc và Điều trị trong bệnh viện, Thông tư 22/2011/TT-BYT về tổ chức hoạt động của khoa Dược, Thông tư 23/2011/TT-BYT hướng dẫn sử dụng thuốc trong cơ sở khám chữa bệnh có giường bệnh, và Quyết định 4824/QĐ-BYT phê duyệt Đề án Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam.

Khung phân tích vận dụng kết hợp ba mô hình quản trị dược bệnh viện chuẩn mực:

  • Phương pháp phân tích ABC (quy luật Pareto): Phân loại danh mục thuốc thành 3 hạng dựa trên tỷ trọng giá trị sử dụng tích lũy, gồm Hạng A (chiếm 70-80% ngân sách với 10-20% số khoản mục), Hạng B (chiếm 15-20% ngân sách với 10-20% số khoản mục), và Hạng C (chiếm 5-10% ngân sách nhưng chiếm 60-80% số khoản mục).
  • Phương pháp phân tích VEN: Phân hạng thuốc theo mức độ ưu tiên điều trị lâm sàng gồm nhóm V (Vital - thuốc sống còn cho cấp cứu), nhóm E (Essential - thuốc thiết yếu điều trị các bệnh lý quan trọng), và nhóm N (Non-essential - thuốc không thiết yếu, điều trị triệu chứng hoặc hiệu quả chưa rõ ràng).
  • Ma trận ABC/VEN: Giao thoa giữa hai phương pháp tạo thành 9 tiểu nhóm quản lý, giúp nhận diện chính xác nhóm thuốc AN (thuốc chi phí cao nhưng không thiết yếu) cần cắt giảm và nhóm AV (thuốc sống còn, chi phí cao) cần ưu tiên kiểm soát.

Các khái niệm chính được áp dụng xuyên suốt gồm: Thuốc generic, Thuốc biệt dược gốc, Thuốc đơn thành phần/đa thành phần, và Tác dụng dược lý theo phân loại quốc tế kết hợp bảng mã bệnh ICD-10.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang hồi cứu toàn bộ số liệu xuất kho thuốc trong vòng 12 tháng của năm 2020. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 296 khoản mục thuốc được sử dụng tại các khoa lâm sàng nội trú và phòng khám ngoại trú của Bệnh viện Đa khoa huyện Nho Quan (loại trừ các vị thuốc y học cổ truyền chưa qua chế biến dạng thành phẩm). Việc lựa chọn phương pháp chọn mẫu toàn bộ giúp phản ánh trọn vẹn bức tranh tiêu thụ thuốc của bệnh viện mà không gặp sai số chọn mẫu.

Nguồn dữ liệu được trích xuất trực tiếp từ phần mềm quản lý thông tin bệnh viện (HIS), báo cáo xuất nhập tồn kho Dược, kết quả trúng thầu của Sở Y tế tỉnh Ninh Bình và hồ sơ bệnh án. Lý do lựa chọn phân tích ma trận ABC/VEN kết hợp phân nhóm điều trị là vì đây là công cụ định lượng khoa học nhất giúp đối chiếu chi phí tiêu thụ với mô hình bệnh tật (trong đó bệnh nhiễm khuẩn chiếm 26,5% và bệnh hệ tuần hoàn chiếm 11,2%), từ đó xác định chính xác các điểm nghẽn về lãng phí ngân sách. Toàn bộ quy trình thu thập, làm sạch và xử lý dữ liệu được tiến hành trong giai đoạn từ tháng 01/2022 đến tháng 05/2022 bằng phần mềm Microsoft Excel 2013 và các công cụ thống kê chuyên dụng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích toàn diện 296 khoản mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Đa khoa huyện Nho Quan năm 2020 ghi nhận bốn phát hiện trọng tâm:

Thứ nhất, về cơ cấu phân loại và nguồn gốc: Thuốc hóa dược chiếm ưu thế vượt trội với 267 khoản mục (90,2% tổng số khoản mục) và 9.455 triệu đồng (77,9% tổng giá trị sử dụng); thuốc đông y và thuốc từ dược liệu chiếm 29 khoản mục (9,8% số lượng) nhưng chiếm tới 2.298 triệu đồng (22,1% tổng giá trị). Về xuất xứ, thuốc sản xuất trong nước khẳng định vị thế chủ lực với 210 khoản mục (70,9%) đạt giá trị 9.301 triệu đồng (75,9% tổng kinh phí), trong khi thuốc nhập khẩu chiếm 86 khoản mục (29,1%) với giá trị 2.753 triệu đồng (24,1%).

Thứ hai, về cơ cấu biệt dược và đường dùng: Bệnh viện thực hiện rất tốt chính sách ưu tiên thuốc generic với 251 khoản mục (94,0%) chiếm 93,7% tổng giá trị sử dụng; biệt dược gốc chỉ chiếm 16 khoản mục (6,0%) tương ứng 598,45 triệu đồng (6,3% giá trị). Về đường dùng, thuốc đường uống chiếm ưu thế với 188 khoản mục (63,5%) và 78,5% chi phí (9.211 triệu đồng); thuốc tiêm truyền chiếm 87 khoản mục (29,4%) với 19,1% chi phí (2.501 triệu đồng). Thuốc đơn thành phần chiếm 87,3% số khoản mục và 81,0% giá trị.

Thứ ba, về nhóm tác dụng dược lý: Trong 29 nhóm điều trị, nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn chiếm tỷ trọng lớn nhất với 53 khoản mục (17,9%) và 3.894 triệu đồng (27,5% tổng chi phí toàn viện). Trong nhóm này, kháng sinh nhóm Beta-lactam chiếm 27 khoản mục (50,9% số khoản mục nhóm) và 85,2% chi phí của cả nhóm chống nhiễm khuẩn. Xếp tiếp theo là nhóm tim mạch với 38 khoản mục (12,8%) chiếm 1.350 triệu đồng (10,5%) và nhóm hormon - nội tiết với 17 khoản mục (5,7%) chiếm 1.187 triệu đồng (9,3%).

Thứ tư, về phân tích ABC/VEN và ma trận kết hợp: Phân hạng ABC cho thấy hạng A gồm 71 khoản mục (24,0% số lượng) chiếm 76,8% tổng giá trị; hạng B gồm 75 khoản mục (25,3%) chiếm 15,2% giá trị; hạng C gồm 150 khoản mục (50,7%) chiếm 8,0% giá trị. Phân tích VEN xác định nhóm V chiếm 50 khoản mục (23,9% số lượng, 24,7% giá trị), nhóm E chiếm 128 khoản mục (61,2% số lượng, 59,8% giá trị), nhóm N chiếm 31 khoản mục (14,8% số lượng, 15,4% giá trị). Đặc biệt, trong nhóm chi phí cao hạng A vẫn xuất hiện nhiều thuốc nhóm N (như Hoạt huyết Phúc Hưng chiếm 443,77 triệu đồng; Hoạt huyết dưỡng não QN chiếm 331,59 triệu đồng; Bổ huyết ích não BDF chiếm 210,79 triệu đồng).

Thảo luận kết quả

Cơ cấu sử dụng thuốc tại Bệnh viện Đa khoa huyện Nho Quan phản ánh sự tương thích tương đối chặt chẽ với mô hình bệnh tật tuyến huyện, nơi bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh trùng dẫn đầu với 26,5%, bệnh hệ tuần hoàn chiếm 11,2%, và bệnh nội tiết chuyển hóa chiếm 9,7%. Việc ưu tiên thuốc đường uống (chiếm 78,5% giá trị) và thuốc đơn chất (chiếm 81,0% giá trị) chứng minh sự tuân thủ nghiêm ngặt hướng dẫn điều trị của Bộ Y tế, giúp giảm thiểu rủi ro biến cố bất lợi do tiêm truyền và giảm tương tác thuốc bất lợi.

So sánh với các nghiên cứu cùng tuyến, tỷ trọng chi phí thuốc kháng sinh của bệnh viện (27,5%) tương đương với Trung tâm Y tế huyện Yên Khánh năm 2019 (23,4%) và Trung tâm Y tế huyện Từ Sơn năm 2019 (25,4%), đồng thời thấp hơn nhiều so với Bệnh viện Đa khoa Kiến An Hải Phòng năm 2019 (54,4%). Tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước đạt 75,9% giá trị, cao hơn mức 65,3% tại Yên Khánh và 62,9% tại Lục Nam (Bắc Giang), thể hiện hiệu quả rõ rệt của chính sách ưu tiên thuốc nội.

Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu chỉ ra điểm bất hợp lý lớn trong quản lý danh mục: tỷ lệ số khoản mục hạng A (24,0%) và hạng B (25,3%) đều vượt ngưỡng chuẩn lý thuyết (10-20%), trong khi hạng C (50,7%) thấp hơn chuẩn (60-80%). Điều này cho thấy nguồn vốn mua thuốc đang bị dàn trải trên quá nhiều mặt hàng đắt tiền. Dữ liệu này khi được trình bày trực quan qua biểu đồ cột tích lũy Pareto kết hợp bảng ma trận ABC/VEN 9 ô sẽ làm nổi bật 10 khoản mục thuốc nhóm AN có chi phí cao nhưng không thực sự thiết yếu, tạo căn cứ thuyết phục để cắt giảm ngân sách.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phát hiện thực chứng, bốn nhóm giải pháp can thiệp cụ thể được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả quản lý dược dụng tại bệnh viện:

  1. Tái cấu trúc danh mục thuốc theo ma trận ABC/VEN: Hội đồng Thuốc và Điều trị bệnh viện cần rà soát và loại bỏ hoặc thay thế ít nhất 50% số khoản mục thuộc nhóm AN (đặc biệt là các chế phẩm đông dược bổ trợ có chi phí vượt 200 triệu đồng như Hoạt huyết dưỡng não, Bổ huyết ích não) trong kỳ xây dựng danh mục quý IV hàng năm; đặt mục tiêu đưa tỷ lệ khoản mục hạng A về mức chuẩn dưới 20% tổng danh mục trong năm 2023.
  2. Tăng cường kiểm soát và giám sát kê đơn kháng sinh: Khoa Dược phối hợp với Tiểu ban Giám sát sử dụng thuốc ban hành hướng dẫn sử dụng kháng sinh phân tầng, thiết lập quy trình duyệt kháng sinh ưu tiên bảo vệ đối với nhóm Cephalosporin thế hệ 3; phấn đấu giảm tỷ trọng chi phí nhóm Beta-lactam từ 85,2% xuống dưới 70% tổng chi phí kháng sinh và giảm tỷ lệ kháng sinh tiêm xuống dưới 15% tổng tiền thuốc trong giai đoạn 2023-2024.
  3. Tối ưu hóa lựa chọn thuốc generic và thuốc sản xuất trong nước: Ban Giám đốc bệnh viện chỉ đạo tổ chức lựa chọn các thuốc generic nhóm 1 và nhóm 2 sản xuất trong nước thay thế cho các biệt dược gốc hết hạn bản quyền hoặc thuốc ngoại nhập trùng hoạt chất (như amlodipin, gliclazid, ciprofloxacin), hướng tới nâng tỷ trọng giá trị thuốc nội lên trên 80% vào cuối năm 2023 nhằm tiết kiệm từ 5% đến 8% ngân sách dược.
  4. Chuẩn hóa quy trình dược lâm sàng và bình đơn thuốc: Dược sĩ lâm sàng chủ động tham gia hội chẩn, triển khai hoạt động bình ca bệnh định kỳ hàng tháng tại các khoa có giá trị sử dụng thuốc cao (Nội tổng hợp, Ngoại tổng hợp, Nhi); ứng dụng công nghệ thông tin cảnh báo tương tác thuốc và đánh giá chi phí - hiệu quả cho 100% phác đồ điều trị bệnh mạn tính ngoại trú bắt đầu từ quý I năm 2023.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang giá trị ứng dụng cao cho bốn nhóm đối tượng chuyên môn:

  1. Lãnh đạo Bệnh viện và Hội đồng Thuốc & Điều trị: Sử dụng phương pháp luận và dữ liệu phân tích ma trận ABC/VEN làm cẩm nang hướng dẫn thực tế để xây dựng danh mục thuốc đấu thầu hàng năm, tối ưu hóa nguồn quỹ bảo hiểm y tế và đáp ứng tiêu chí chất lượng bệnh viện mục C9 của Bộ Y tế.
  2. Dược sĩ lâm sàng và Cán bộ quản lý Khoa Dược: Áp dụng trực tiếp quy trình xử lý số liệu 296 khoản mục thuốc, các bước phân loại mã hóa trên phần mềm quản lý và kỹ thuật kiểm soát thuốc nhóm AN, giúp nâng cao hiệu suất quay vòng tồn trữ kho đạt trên 95%.
  3. Giảng viên, Học viên cao học và Sinh viên ngành Dược: Tiếp cận mô hình nghiên cứu cắt ngang mẫu chuẩn mực, phương pháp xử lý dữ liệu chi phí 12,75 tỷ đồng và kỹ năng đối chiếu tương quan giữa mô hình bệnh tật với cơ cấu thuốc sử dụng tại bệnh viện tuyến cơ sở.
  4. Cơ quan Quản lý Y tế và Bảo hiểm Xã hội: Tham khảo số liệu thực chứng về tỷ lệ sử dụng biệt dược gốc (6,3%) và thuốc nhập khẩu (24,1%) để hoạch định chính sách phân bổ ngân sách khám chữa bệnh BHYT, kiểm soát chi phí thuốc generic trên phạm vi toàn tỉnh.

Câu hỏi thường gặp

Phân tích ABC/VEN mang lại lợi ích cụ thể nào cho Bệnh viện Đa khoa huyện Nho Quan?
Phương pháp này giúp phân định rõ 296 khoản mục thuốc thành 9 nhóm quản lý riêng biệt, chỉ ra 71 thuốc hạng A chiếm tới 76,8% tổng chi phí (9,75 tỷ đồng). Qua đó, Hội đồng Thuốc có căn cứ vững chắc để cắt giảm các thuốc nhóm AN không thiết yếu nhằm tái tập trung ngân sách cho nhóm thuốc sống còn V (hiện chiếm 24,7% chi phí).

Tại sao thuốc sản xuất trong nước lại chiếm tỷ trọng vượt trội trong danh mục của bệnh viện?
Bệnh viện đã quán triệt sâu sắc Quyết định 4824/QĐ-BYT về ưu tiên dùng thuốc Việt Nam, giúp thuốc nội chiếm 70,9% số khoản mục và 75,9% giá trị sử dụng (9,3 tỷ đồng). Điều này vừa đáp ứng đầy đủ phác đồ điều trị tuyến huyện vừa giúp tiết kiệm chi phí đáng kể so với 86 khoản mục thuốc nhập khẩu có cùng hoạt chất.

Nhóm thuốc kháng sinh tại bệnh viện có điểm bất hợp lý nào cần can thiệp?
Nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn chiếm tỷ trọng chi phí cao nhất toàn viện với 27,5% (3,89 tỷ đồng), trong đó kháng sinh Beta-lactam chiếm tới 50,9% số lượng khoản mục và 85,2% chi phí của cả nhóm. Việc lạm dụng Cephalosporin thế hệ 3 làm gia tăng gánh nặng tài chính và tiềm ẩn nguy cơ kháng thuốc trong cộng đồng.

Cơ cấu sử dụng thuốc giữa điều trị nội trú và ngoại trú khác nhau như thế nào?
Số khoản mục dùng cho ngoại trú (139 khoản mục) ít hơn nội trú (196 khoản mục), nhưng giá trị tiền thuốc ngoại trú lại cao gấp 2,1 lần so với nội trú. Nguyên nhân là do các bệnh mạn tính điều trị dài ngày (tim mạch chiếm 10,5% chi phí, nội tiết chiếm 9,3% chi phí) và các thuốc đông dược (22,1% chi phí) tập trung chủ yếu ở ngoại trú.

Luận văn đề xuất giải pháp gì để xử lý nhóm thuốc chi phí cao không thiết yếu (AN)?
Nghiên cứu kiến nghị Hội đồng Thuốc rà soát toàn bộ các thuốc nhóm AN như Hoạt huyết Phúc Hưng (443,77 triệu đồng) hay Bổ huyết ích não BDF (210,79 triệu đồng). Giải pháp là chuyển dịch sang các thuốc generic đơn chất thiết yếu nhóm E có chi phí thấp hơn, giúp bệnh viện tiết kiệm từ 5% đến 8% tổng ngân sách hàng năm.

Kết luận

Nghiên cứu đã đánh giá toàn diện thực trạng sử dụng 296 khoản mục thuốc với tổng giá trị 12,75 tỷ đồng tại Bệnh viện Đa khoa huyện Nho Quan năm 2020, rút ra các kết luận then chốt:

  • Danh mục thuốc cơ bản đáp ứng đúng mô hình bệnh tật địa phương, tập trung vào bệnh nhiễm khuẩn (26,5%) và tuần hoàn (11,2%).
  • Bệnh viện thực hiện rất tốt chính sách thuốc generic (chiếm 93,7% giá trị) và thuốc sản xuất trong nước (chiếm 75,9% giá trị).
  • Cơ cấu ABC còn phân tán khi thuốc hạng A chiếm 24,0% và hạng B chiếm 25,3% số khoản mục, vượt ngưỡng khuyến cáo 20%.
  • Nhóm thuốc không thiết yếu (nhóm N) vẫn chiếm 15,4% chi phí và kháng sinh Beta-lactam chiếm áp đảo 85,2% giá trị nhóm chống nhiễm khuẩn.
  • Đóng góp chính của luận văn là cung cấp bức tranh thực chứng khoa học giúp Hội đồng Thuốc và Điều trị tối ưu hóa danh mục thuốc giai đoạn 2023-2025.

Kế hoạch hành động tiếp theo yêu cầu bệnh viện tái cấu trúc danh mục thuốc đấu thầu ngay trong quý IV, loại bỏ các thuốc nhóm AN chi phí cao và chuẩn hóa 100% phác đồ điều trị mạn tính. Các cơ sở khám chữa bệnh tuyến huyện cần chủ động ứng dụng ma trận ABC/VEN định kỳ để nâng cao hiệu quả quản trị, bảo đảm sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và bền vững nguồn quỹ y tế.