Nghiên cứu phân bố kiểu gen CYP1A1 và CYP2D6 ở bệnh nhân ung thư phổi

Luận án tiến sĩ nghiên cứu sự phân bố kiểu gen CYP1A1 và CYP2D6 ở bệnh nhân ung thư phổi, cung cấp hiểu biết sâu về di truyền học liên quan đến bệnh lý này.

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Hóa Sinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2017

148
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về kiểu gen CYP1A1 và CYP2D6

Nghiên cứu tập trung vào kiểu gen CYP1A1kiểu gen CYP2D6, hai gen quan trọng trong chuyển hóa các chất gây ung thư. CYP1A1 tham gia vào quá trình chuyển hóa các hydrocacbon thơm đa vòng (PAHs), trong khi CYP2D6 liên quan đến chuyển hóa nicotine và các chất độc khác. Sự đa hình của các gen này có thể ảnh hưởng đến nguy cơ mắc ung thư phổi, đặc biệt ở những người hút thuốc lá. Nghiên cứu này là một phần của nghiên cứu tiến sĩ nhằm xác định sự phân bố gen và mối liên quan với bệnh lý ung thư.

1.1. Vai trò của CYP1A1 trong ung thư phổi

CYP1A1 là một gen mã hóa enzyme tham gia vào quá trình chuyển hóa các chất gây ung thư như PAHs. Sự đa hình của gen này, đặc biệt là các đột biến như T6235C và A4889G, có thể làm tăng nguy cơ mắc ung thư phổi. Nghiên cứu chỉ ra rằng những người mang đột biến này có khả năng bị ung thư cao hơn, đặc biệt khi tiếp xúc với khói thuốc lá.

1.2. Vai trò của CYP2D6 trong ung thư phổi

CYP2D6 tham gia vào chuyển hóa nicotine và các chất độc khác. Sự đa hình của gen này, như G4268C và C188T, có thể ảnh hưởng đến khả năng chuyển hóa các chất gây ung thư. Nghiên cứu cho thấy những người mang đột biến này có nguy cơ mắc ung thư phổi cao hơn, đặc biệt ở những người hút thuốc lá.

II. Phân bố kiểu gen ở bệnh nhân ung thư phổi

Nghiên cứu đã phân tích sự phân bố gen của CYP1A1CYP2D6bệnh nhân ung thư phổi so với nhóm đối chứng. Kết quả cho thấy sự khác biệt đáng kể trong tỷ lệ các đột biến gen giữa hai nhóm. Điều này khẳng định mối liên hệ giữa đột biến gen và nguy cơ mắc ung thư phổi. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các yếu tố như tuổi, giới tính và thói quen hút thuốc lá có ảnh hưởng đến sự phân bố gen.

2.1. Phân bố kiểu gen CYP1A1

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đột biến T6235CA4889G trên gen CYP1A1 cao hơn đáng kể ở nhóm bệnh nhân ung thư phổi so với nhóm đối chứng. Điều này cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa các đột biến này và nguy cơ mắc bệnh.

2.2. Phân bố kiểu gen CYP2D6

Tương tự, tỷ lệ đột biến G4268CC188T trên gen CYP2D6 cũng cao hơn ở nhóm bệnh nhân. Nghiên cứu khẳng định rằng các đột biến này có thể làm tăng nguy cơ mắc ung thư phổi, đặc biệt ở những người hút thuốc lá.

III. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu này có giá trị lớn trong việc hiểu rõ hơn về di truyền học của ung thư phổi. Việc xác định sự phân bố gen và các đột biến liên quan có thể giúp phát triển các phương pháp chẩn đoán sớm và điều trị cá nhân hóa. Đây là một bước tiến quan trọng trong nghiên cứu y họcnghiên cứu khoa học về bệnh lý ung thư.

3.1. Chẩn đoán sớm ung thư phổi

Việc xác định các đột biến trên gen CYP1A1CYP2D6 có thể giúp phát hiện sớm nguy cơ mắc ung thư phổi, đặc biệt ở những người có tiền sử hút thuốc lá. Điều này mở ra hướng đi mới trong chẩn đoán và phòng ngừa bệnh.

3.2. Điều trị cá nhân hóa

Nghiên cứu cũng gợi ý rằng việc hiểu rõ di truyền học của bệnh nhân có thể giúp phát triển các phương pháp điều trị cá nhân hóa, tăng hiệu quả và giảm tác dụng phụ.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ sự phân bố kiểu gen cyp1a1 cyp2d6 ở bệnh nhân ung thư phổi

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư phổi là bệnh ác tính phát triển từ biểu mô phế quản, tiểu phế quản, phế nang hoặc từ các tuyến của phế quản. Đây là loại ung thư thường gặp nhất và là nguyên nhân gây tử vong cao nhất trong các bệnh ung thư ở nhiều nước trên thế giới, cũng như ở Việt Nam. Mỗi năm, trên toàn thế giới ước tính có khoảng 1,8 triệu người mắc và 1,59 triệu người tử vong do ung thư phổi. Tại Mỹ, theo báo cáo mới nhất năm 2016, ước tính mỗi năm có khoảng 221.200 ca mắc mới chiếm 13% tổng số các trường hợp được chẩn đoán ung thư và 160.340 người tử vong do ung thư phổi, chiếm tỷ lệ 28% tổng số người được chẩn đoán ung thư [1],[2].

Tại các nước thuộc liên hiệp Anh, trong năm 2009 có khoảng 41.428 ca mắc mới trong đó có 23.041 (56%) là nam giới và 18. Tại Việt Nam, ung thư phổi đứng hàng đầu ở nam giới. Ước tính cả nước hàng năm có khoảng 6.905 ca ung thư phổi mới mắc [4]. Tại khoa Hô hấp bệnh viện Bạch Mai, số các trường hợp ung thư phổi nhập viện tăng đều hàng năm, đứng hàng thứ hai chỉ sau bệnh phổi mạn tính tắc nghẽn [5],[6].

Theo phân loại của Tổ chức y tế thế giới (WHO), ung thư phổi được chia làm hai nhóm chính dựa trên đặc điểm mô bệnh học là ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) và ung thư phổi tế bào nhỏ (UTPTBN), trong đó UTPKTBN chiếm 80 - 85% [7]. Ngày nay, người ta đã xác định được nhiều nguyên nhân gây ung thư phổi, trong đó đại đa số ung thư phổi là do các chất sinh ung thư và các yếu tố tạo u vào cơ thể theo đường hút thuốc, hóa chất gây ung thư và yếu tố môi trường. Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ cũng như là nguyên nhân rõ ràng nhất liên quan đến ung thư phổi. Theo nghiên cứu của Mỹ, hút thuốc là nguyên nhân của 90% các trường hợp được chẩn đoán ung thư phổi, ở Anh là 87%.

2 Tuy nhiên, những báo cáo cũng chỉ ra rằng chỉ 20% người hút thuốc bị ung thư phổi, điều đó cho thấy những biến thể di truyền và yếu tố môi trường khác đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển của bệnh ung thư phổi [8],[9]. Trong đó CYP1A1 và CYP2D6 là những enzym có vai trò hoạt hóa các chất gây ung thư sinh ra từ khói thuốc như nicotine và các hydrocacbon có nhân thơm để giảm nguy cơ gây đột biến DNA [11]. Vì lý do nào đó những người mang gen CYP1A1, CYP2D6 bị đột biến làm giảm khả năng bảo vệ tế bào phổi từ các tác nhân trên dẫn đến bị UTP. Để góp phần hiểu rõ hơn về mối liên quan giữa các dạng đa hình thái đơn các gen CYP1A1, CYP2D6 và một số yếu tố nguy cơ của bệnh ung thư phổi, đề tài “Sự phân bố kiểu gen CYP1A1, CYP2D6 ở bệnh nhân ung thƣ phổi” được tiến hành với 2 mục tiêu: 1.

Xác định tỷ lệ và sự phân bố kiểu gen của một số đa hình thái đơn trên các gen CYP1A1, CYP2D6 ở nhóm bệnh nhân ung thư phổi và nhóm đối chứng. Đánh giá mối tương quan giữa các dạng đa hình thái đơn các gen CYP1A1, CYP2D6 với một số yếu tố nguy cơ ở bệnh ung thư phổi. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Định nghĩa ung thƣ phổi Ung thư phế quản hay ung thư phổi là bệnh ác tính phát triển từ biểu mô phế quản, tiểu phế quản, phế nang hoặc từ các tuyến của phế quản [5].

Dịch tễ học ung thƣ phổi 1. Tình hình ung thư phổi trên thế giới Các đặc điểm lâm sàng của ung thư phổi được Laennec (1781-1826), một bác sỹ người Pháp mô tả lần đầu tiên trong y văn vào năm 1805. Hơn 100 năm sau (1912), Adler I đã thu thập được 375 trường hợp ung thư phổi. Năm 1910 Alton Ochner (Đại học Washington) ghi nhận 1 trường hợp ung thư phổi qua mổ tử thi, 17 năm sau ghi nhận trường hợp thứ 2 tại bệnh viện Charity ở New Orleans (Mỹ), 6 tháng sau đó thêm 8 trường hợp khác, tất cả đều là nam giới nghiện thuốc lá.

Khi đó, tác giả gọi bệnh này như là một bệnh dịch. Theo WHO ung thư phổi đứng hàng đầu ở nam (17,6%), đứng hàng thứ năm ở nữ (5,8%) trong tổng số các ung thư.000 trường hợp ung thư phổi mới được phát hiện. Theo thống kê của WHO (2012), ung thư phổi là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các bệnh ung thư trên toàn thế giới, chiếm gần 1/5 tổng số ca tử vong do ung thư. Số ca bệnh ung thư phổi cũng ngày càng gia tăng, khoảng gần 1,61 triệu bệnh nhân được chẩn đoán ung thư phổi trên toàn thế giới tại thời điểm 2012, trong số đó có hơn một nửa là số ca bệnh nhân ung thư phổi ở các nước đang phát triển 4 [1].

Gần đây, theo báo cáo mới nhất năm 2016 trên toàn thế giới có khoảng 1,8 triệu ca ung thư phổi mới phát hiện và 1,59 triệu ca tử vong do UTP [2].1: Tỉ lệ tử vong do ung thƣ phổi theo báo cáo năm 2016 (Global Cancer Facts & Figures 2016) Tuổi và giới của ung thƣ phổi: Theo số liệu các ghi nhận ung thư trên thế giới, tỉ lệ mắc ung thư phổi của nam giới cao hơn ở nữ giới, xét riêng về yếu tố gây ung thư phổi là thuốc lá thì phơi nhiễm với yếu tố này của nam và của nữ cũng rất khác nhau, nam giới có tỉ lệ hút thuốc và nghiện thuốc lá cao hơn nữ, tuy nhiên trong những năm gần đây tỉ lệ hút thuốc ở nam giảm trong khi đó tỉ lệ hút thuốc ở nữ lại có xu hướng gia tăng, vì vậy làm thay đổi tỉ lệ mới mắc ung thư. Ở Mỹ năm 2000 tỉ lệ mắc mới ung thư phổi ở nữ cao gấp 2 lần năm 1975, từ năm 1973 đến năm 1990 mỗi năm trung bình tỉ lệ mới mắc theo tuổi tăng 4,1% trong khi từ năm 1990 đến năm 2000 trung bình chỉ tăng 0,2%. Theo báo cáo mới nhất năm 2016 của Hoa Kỳ, tỷ lệ mắc UTP của nam và nữ là 2,5/1 [2]. 5 Tại Hoa Kỳ Ung thư phổi là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho cả hai giới ở Hoa Kỳ, chiếm khoảng 28% tổng số các trường hợp tử vong do ung thư hàng năm.600 trường hợp ung thư phổi mắc mới.380 trường hợp phát hiện mới, trong đó ước tính có khoảng 114.760 ca ung thư phổi mới phát hiện ở nam giới và khoảng 98.620 ca ung thư phổi mới phát hiện là nữ giới.020 trường hợp mắc mới.520 trường hợp phát hiện mới, trong đó ước tính có khoảng 116.750 ca ung thư phổi mới phát hiện ở nam giới và khoảng 105.770 ca ung thư phổi mới phát hiện là nữ giới.160 trường hợp mắc mới chiếm khoảng 14% tổng số các loại ung thư được chẩn đoán.

Báo cáo mới nhất năm 2016, ước tính có khoảng 221.200 trường hợp mắc mới ung thư phổi, chiếm khoảng 13% tổng số các loại ung thư được chẩn đoán [1],[2]. Tình hình ung thư phổi tại Việt Nam Các cố gắng để tìm hiểu ung thư phổi nói riêng và ung thư nói chung đã có từ những năm 50 của thế kỷ trước, kết quả nghiên cứu của các tác giả đều có chung một nhận định những loại ung thư hay gặp nhất ở nam giới là ung thư phổi, dạ dày, gan… Hiện nay đã có những số liệu ghi nhận về ung thư tương đối chính xác và có thể đại diện cho tình hình ung thư của cả nước. Theo số liệu về ung thư ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1995-1996, và từ đó ước tính chung tỷ lệ mắc ung thư. Ở Việt Nam năm 2000, nam giới có khoảng 36.021 người mắc ung thư phổi chiếm tỷ lệ 91,5/100.000 dân và ở nữ giới có khoảng 32.786 người, chiếm tỷ lệ 81,5/100.

Ung thư phổi đứng hàng đầu ở nam giới. Ước tính hàng năm có khoảng 6.905 ca ung thư phổi mới mắc [4]. 6 Cho tới năm 2004, theo các ghi nhận về dịch tễ học ung thư, ung thư phổi là loại ung thư đứng hàng đầu ở nam giới với tỷ lệ mắc bệnh ở Hà Nội là 39,8/100. Trong số các trường hợp ung thư phổi phải nhập viện thì có tới 62,5% không có khả năng phẫu thuật [6].

Tại khoa Hô Hấp Bệnh viện Bạch Mai, số các trường hợp ung thư phổi nhập viện tăng đều hàng năm: 1969 đến 1972 có 89 trường hợp ung thư phổi, từ 1974 đến 1978 có 186 trường hợp, từ 1981 đến 1985 có 285 trường hợp, từ 1996 đến 2000 có 639 trường hợp, chiếm 16.6% tổng số các bệnh điều trị, đứng hàng thứ hai chỉ sau bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính [5]. Theo báo cáo mới nhất của WHO, năm 2016, ở Việt Nam, ung thư phổi đứng hàng thứ 2 chỉ đứng sau ung thư gan ở nam giới cả tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong. Ở nữ ung thư phổi có tỷ mắc đứng thứ 2 sau ung thư vú nhưng có tỷ lệ tử vong đứng đầu trên tổng số các loại ung thư [2]. Tóm lại, ung thư phổi trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng là bệnh phổ biến trong tất cả các loại ung thư.

Đây là bệnh có tiên lượng xấu bởi tiến triển nhanh, di căn sớm, phát hiện bệnh thường ở giai đoạn muộn. Do vậy khả năng điều trị ngoại khoa cũng như các biện pháp điều trị khác rất hạn chế. Việc điều trị ung thư phổi vẫn còn là vấn đề nan giải, ít tiến bộ so với các loại ung thư khác. Chính điều này chúng ta cần quan tâm phát triển các phướng pháp, kỹ thuật chẩn đoán sớm cho người bệnh và tăng cường công tác dự phòng [7].

Các yếu tố nguy cơ liên quan đến ung thƣ phổi Ngày nay, người ta đã xác định được nhiều nguyên nhân gây ung thư phổi, trong đó đại đa số ung thư phổi là do các chất sinh ung thư và các yếu tố tạo u vào cơ thể theo đường hút thuốc, hóa chất gây ung thư và yếu tố môi trường, được thể hiện ở hình dưới [12]. 7 Các yếu tố nguy cơ Quá sản phế nang U tuyến ác không điển hình tính Biến đổi gen Các chất gây UT của thuốc lá Rối loạn chu trình TB UNG THƯ Biểu mô Rối loạn chu trình chết TB PHỔI phế quản Hóa chất và môi Rối loạn ức chế trường Dị sản biểu mô phế Ung thư tại Loạn sản quản chỗ Hình 1. Vai trò các yếu tố nguy cơ gây ung thƣ phổi [12] 1. Thuốc lá Từ “hút thuốc lá” dùng ở đây bao gồm cả hút thuốc lá và các hình thức tương tự.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Phân bố kiểu gen CYP1A1 và CYP2D6 ở bệnh nhân ung thư phổi: Nghiên cứu tiến sĩ là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích sự phân bố của hai kiểu gen CYP1A1 và CYP2D6 ở bệnh nhân ung thư phổi. Nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết quan trọng về vai trò của các kiểu gen này trong cơ chế bệnh sinh và khả năng đáp ứng điều trị, từ đó mở ra hướng tiếp cận cá thể hóa trong điều trị ung thư phổi. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, bác sĩ và sinh viên y khoa quan tâm đến di truyền học và ung thư.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp điều trị ung thư, bạn có thể tham khảo Luận án đánh giá kết quả phẫu thuật cắt đoạn và nối máy trong điều trị ung thư trực tràng giữa và thấp, nghiên cứu này cung cấp cái nhìn chi tiết về hiệu quả của phẫu thuật trong điều trị ung thư. Ngoài ra, Luận án nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật kiểm soát chọn lọc cuống glisson trong cắt gan điều trị ung thư tế bào gan sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các kỹ thuật tiên tiến trong điều trị ung thư gan. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ nghiên cứu giải phẫu mạch máu và thần kinh tuyến giáp trên người Việt Nam trưởng thành là tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai quan tâm đến giải phẫu và sinh lý bệnh liên quan đến ung thư.

Mỗi liên kết trên là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các phương pháp điều trị và nghiên cứu liên quan đến ung thư, từ đó nâng cao hiểu biết và ứng dụng trong thực tiễn.