Nồng độ CYFRA 21-1 và CEA huyết tương ở bệnh nhân ung thư phổi nguyên phát tại Thái Nguyên

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hay nồng độ cyfra 21 1 và cea huyết tương ở bệnh nhân ung thư phổi nguyên phát tại bệnh viện đa, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Nội khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ y học

2015

100
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Một số đặc điểm về ung thư phổi

1.2. Chất chỉ điểm u trong ung thư phổi

1.3. Một số nghiên cứu về CEA và CYFRA 21-1 ở bệnh nhân ung thư phổi

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.4. Chỉ tiêu nghiên cứu

2.5. Phương pháp thu thập số liệu

2.6. Các bước tiến hành nghiên cứu

2.7. Tiêu chuẩn đánh giá

2.8. Xử lý số liệu

2.9. Khía cạnh đạo đức của đề tài

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

3.2. Nồng độ CEA và CYFRA 21-1 trong huyết tương

3.3. Mối liên quan giữa nồng độ CEA, CYFRA21-1 với đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

4. CHƯƠNG 4: THẢO LUẬN

4.1. Về đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

4.2. Nồng độ chỉ điểm u CEA CYFRA 21-1 trong huyết tương

4.3. Nồng độ CEA CYFRA 21-1 trong nhóm bệnh và nhóm chứng

4.4. Mối liên quan giữa nồng độ CEA và CYFRA21-1 với đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

4.5. Hạn chế của công trình nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nồng độ CYFRA 21 1 và CEA trong ung thư phổi

Nồng độ CYFRA 21-1 và CEA là hai chất chỉ điểm u quan trọng trong chẩn đoán và theo dõi ung thư phổi. CYFRA 21-1 là mảnh cytokeratin 21-1, trong khi CEA là chất chỉ điểm phôi. Cả hai đều có vai trò trong việc đánh giá tình trạng bệnh nhân ung thư phổi tại Thái Nguyên. Nghiên cứu này nhằm mục đích phân tích nồng độ của chúng trong huyết tương bệnh nhân ung thư phổi nguyên phát.

1.1. Định nghĩa và vai trò của CYFRA 21 1 và CEA

CYFRA 21-1 và CEA là các chất chỉ điểm u được sản xuất bởi tế bào ung thư. Chúng giúp xác định sự hiện diện và mức độ nghiêm trọng của bệnh. Nghiên cứu cho thấy nồng độ của chúng có thể phản ánh tình trạng lâm sàng của bệnh nhân.

1.2. Tình hình ung thư phổi tại Thái Nguyên

Ung thư phổi là một trong những bệnh lý phổ biến tại Thái Nguyên. Tỷ lệ mắc bệnh đang gia tăng, đặc biệt ở những người có yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá. Việc theo dõi nồng độ CYFRA 21-1 và CEA có thể giúp cải thiện chẩn đoán và điều trị.

II. Vấn đề và thách thức trong chẩn đoán ung thư phổi

Chẩn đoán ung thư phổi gặp nhiều khó khăn do triệu chứng không đặc hiệu và sự biến đổi nồng độ của các chất chỉ điểm. Nhiều bệnh nhân đến khám khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, làm giảm khả năng điều trị hiệu quả. Việc phát hiện sớm là rất quan trọng để nâng cao tỷ lệ sống sót.

2.1. Triệu chứng không điển hình của ung thư phổi

Nhiều bệnh nhân có triệu chứng như ho, khó thở, và mệt mỏi, nhưng không nhận ra đây là dấu hiệu của ung thư. Điều này dẫn đến việc chẩn đoán muộn và ảnh hưởng đến kết quả điều trị.

2.2. Khó khăn trong việc xác định nồng độ CYFRA 21 1 và CEA

Nồng độ CYFRA 21-1 và CEA có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm tình trạng sức khỏe tổng quát của bệnh nhân. Điều này tạo ra thách thức trong việc sử dụng chúng như là chỉ số chẩn đoán chính xác.

III. Phương pháp nghiên cứu nồng độ CYFRA 21 1 và CEA

Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên với các bệnh nhân ung thư phổi nguyên phát. Phương pháp thu thập mẫu huyết tương và phân tích nồng độ CYFRA 21-1 và CEA được thực hiện theo tiêu chuẩn quốc tế.

3.1. Quy trình thu thập mẫu huyết tương

Mẫu huyết tương được thu thập từ bệnh nhân theo quy trình nghiêm ngặt để đảm bảo độ chính xác. Mỗi mẫu được xử lý và bảo quản đúng cách trước khi phân tích.

3.2. Phân tích nồng độ CYFRA 21 1 và CEA

Nồng độ CYFRA 21-1 và CEA được xác định bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang. Kết quả được so sánh với các tiêu chuẩn đã được thiết lập để đánh giá tính chính xác và độ nhạy của các chỉ số này.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ CYFRA 21-1 và CEA có mối liên quan chặt chẽ với giai đoạn bệnh. Việc theo dõi nồng độ của chúng có thể giúp bác sĩ đưa ra quyết định điều trị kịp thời và hiệu quả hơn.

4.1. Mối liên hệ giữa nồng độ và giai đoạn bệnh

Nghiên cứu cho thấy nồng độ CYFRA 21-1 và CEA tăng lên theo giai đoạn bệnh. Điều này cho thấy khả năng sử dụng chúng như là chỉ số tiên lượng trong điều trị ung thư phổi.

4.2. Ứng dụng trong điều trị và theo dõi bệnh nhân

Việc theo dõi nồng độ CYFRA 21-1 và CEA giúp bác sĩ đánh giá hiệu quả điều trị và điều chỉnh phác đồ điều trị kịp thời. Điều này có thể cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu về nồng độ CYFRA 21-1 và CEA trong huyết tương bệnh nhân ung thư phổi tại Thái Nguyên đã chỉ ra tầm quan trọng của các chất chỉ điểm này trong chẩn đoán và theo dõi bệnh. Tương lai, cần có thêm nhiều nghiên cứu để xác định rõ hơn vai trò của chúng trong điều trị ung thư phổi.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu tiếp theo

Cần có thêm các nghiên cứu lớn hơn để xác định rõ hơn mối liên hệ giữa nồng độ CYFRA 21-1, CEA và các yếu tố lâm sàng khác. Điều này sẽ giúp cải thiện khả năng chẩn đoán và tiên lượng.

5.2. Hướng phát triển trong điều trị ung thư phổi

Nghiên cứu có thể mở ra hướng đi mới trong việc phát triển các phương pháp điều trị dựa trên nồng độ của các chất chỉ điểm u. Điều này có thể giúp nâng cao hiệu quả điều trị và cải thiện tỷ lệ sống sót cho bệnh nhân.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay nồng độ cyfra 21 1 và cea huyết tương ở bệnh nhân ung thư phổi nguyên phát tại bệnh viện đa khoa trung ương thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư phổi (UTP) nguyên phát là loại ung thư phổ biến nhất và là một trong các nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trong số các bệnh mạn tính ở nhiều quốc gia trên thế giới. Trong tương lai UTP v n được đánh giá là một bệnh khó kiềm chế so với một số nguyên nhân gây tử vong khác như bệnh lý tim mạch tiêu hóa. Số ca mới mắc mỗi năm trên toàn cầu tăng trung bình là 0,5% và t lệ sống trên 5 năm chỉ khoảng 15% đối với bệnh nhân được ch n đoán ở giai đoạn cuối, nhưng có thể được 70% - 90% đối với bệnh nhân được ch n đoán và điều trị ở giai đoạn sớm [38], [41]. Do vậy việc tìm hiểu các phương pháp nhằm ch n đoán sớm và tiên lượng bệnh là mục tiêu hàng đầu của các nhà khoa học nghiên cứu trong lĩnh vực ung bướu.

Để ch n đoán và tiên lượng ung thư phổi các phương pháp ch n đoán hình ảnh phương pháp miễn dịch và mô bệnh học luôn được quan tâm và phát triển không ngừng. Từ chụp X quang phổi thường quy cho hiệu quả ch n đoán thấp đến nay là phương pháp chụp cắt lớp đa đầu dò dựng hình ảnh không gian ba chiều đến chụp cắt lớp bằng phát xạ Positron (PET), từ xét nghiệm mô bệnh bằng phương pháp nhuộm soi thông thường nay là phương pháp nhuộm hóa mô miễn dịch và công nghệ phân tích gen đã góp phần rất lớn trong ch n đoán và tiên lượng bệnh. C ng với đó những nghiên cứu trong lĩnh vực hóa sinh của tế bào ung thư đã phát hiện một số chất đặc trưng do tế bào ung thư sản xuất ra, được gọi là chất “chỉ điểm u” như: αFP trong ung thư gan CEA trong ung thư đại tràng PSA trong ung thư tuyến tiền liệt Sự phát triển của ngành hóa sinh đã gi p xác định n ng độ của các chỉ điểm u ngay từ khi n ng độ của ch ng ở trong máu còn rất thấp vì vậy việc xác định n ng độ chất chỉ điểm u được cho là một trong các xét nghiệm có giá trị định hướng ch n đoán sớm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Trong UTP có một số chất chỉ điểm u như CYFRA21-1, CEA, NSE, TPS, SCC CA125 Pro GRP.

nhưng có 2 chất chỉ điểm u được quan tâm nhiều nhất trong hỗ trợ ch n đoán, theo d i điều trị UTP là CYFRA21-1 và CEA [1], [36], [47], [53]. Trên thế giới cũng như ở Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu đánh giá cao vai trò chất chỉ điểm u trong ch n đoán và tiên lượng UTP như nghiên cứu của Cendre S (2011), Okamura K (2013), Szturmowicz M (2014), Nguyễn Hải Anh (2007), Lê Ngọc H ng (2011), Nguyễn Thị Kim Oanh (2014), Hoàng Thị Minh (2015) [1], [12], [19], [20], [33], [53], [65]. Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên trong vài năm gần đây đã tiến hành triển khai các xét nghiệm định lượng n ng độ chất chỉ điểm u của các loại ung thư trong đó có ung thư phổi. Nhằm tìm hiểu sự biến đổi n ng độ của chất chỉ điểm u trong UTP ch ng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nồng độ CYFRA 21-1 và CEA huyết tƣơng ở bệnh nhân ung thƣ phổi nguyên phát tại ệnh viện Đa khoa Trung ƣơng Thái Nguyên" với hai mục tiêu sau: 1 ị h g FRA 21-1 và CEA h gở ệ h h g h hổi g h i ệ h iệ Đ h T g g Thái Nguyên.

Phân tích ối i giữ g FRA 21-1 EA i ặ i g g ối g ghi. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. ột số đặc điểm về ung thƣ phổi Ung thư là một nhóm các bệnh liên quan đến sự phân chia tế bào một cách vô tổ chức và những tế bào đó có khả năng xâm lấn những mô khác bằng cách phát triển trực tiếp vào mô lân cận hoặc di chuyển đến nơi xa (di căn) theo hệ thống mạch máu bạch huyết [7]. Hiện nay có khoảng hơn 200 loại ung thư khác nhau trên cơ thể người trong đó ung thư phổi là một trong những loại ung thư có tỉ lệ mắc và tử vong cao nhất đặc biệt là ở các nước đang phát triển [40], [60].

Ung thư phế quản hay ung thư phổi (UTP là bệnh ác tính mà tế bào ung thư được phát triển từ biểu mô phế quản, tiểu phế quản phế nang hoặc từ các tuyến của phế quản [5]. Ung thư phổi được chia làm 2 nhóm chính dựa theo kiểu tế bào: ung thư phổi tế bào nhỏ (small cell lung cancer: SCLC và ung thư phổi không tế bào nhỏ (non- SCLC: NSCLC). UTP tế bào nhỏ chiếm khoảng 10- 15% ung thư phổi và khác biệt về sinh học với UTP không tế bào nhỏ bởi sự hiện diện của nội tiết tố thần kinh và tốc độ phát triển nhanh của khối u. Dịch tễ học ung thư phổi *T hh h g h hổi h gi i Ung thư phổi được mô tả lần đầu tiên vào năm 1850 khi đó UTP là một bệnh rất hiếm gặp.

Năm 1878 UTP chỉ chiếm khoảng 1% trong tổng số ung thư qua mổ tử thi tại Viện giải ph u bệnh Dresden ở Đức. Năm 1910 Alton Ochner (Đại học Washington ghi nhận một trường hợp UTP qua mổ tử thi 17 năm sau ghi nhận trường hợp thứ 2 tại bệnh viện Charity ở New Orleans (Mỹ 6 tháng sau đó thêm 8 trường hợp khác tất cả đều là nam giới nghiện thuốc lá khi đó tác giả gọi đây là một bệnh dịch. Năm 1985 ước tính có Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.000 trường hợp tử vong trên toàn thế giới do UTP đã tăng 17% so với năm 1980 [5]. Năm 2008 trên thế giới có 1 61 triệu người mắc mới UTP (chiếm 12 7% tổng số mắc ung thư và làm tử vong 1 38 triệu người (chiếm 18 2% tổng số tử vong do ung thư [40].

So với năm 2002 số bệnh nhân được ch n đoán UTP trong năm đã tăng thêm 260. Các nước khu vực Đông Âu là các nước có tỉ lệ mắc mới UTP cao nhất ở nam giới (56 5/100.000 dân trong khi đó thì tại ắc Mỹ có tỉ lệ mắc mới UTP tại nữ giới cao nhất (35 8/100. Tỉ lệ mắc UTP tại Đông Nam Á năm 2008 là 29 6/100.000 dân ở nam và 11 9/100. Đến năm 2012 trên toàn thế giới có 1.000 trường hợp mắc UTP với 1.000 trường hợp tử vong; trong đó con số này ở các nước kém phát triển (1.000 trường hợp mắc 960.000 tử vong cao hơn các nước phát triển (758.

UTP v n là loại ung thư phổ biến ở nam giới với tỉ lệ mắc mới cao nhất ở v ng Trung Âu và Đông Âu (53.000 nam giới hiệu chỉnh theo tuổi tỉ lệ mắc mới UTP ở nam giới v ng Trung Phi và Tây Phi thấp chỉ chiếm (2 0 và 1 7/100.000 nam giới theo thứ tự hiệu chỉnh theo tuổi [41]. Tỉ lệ mắc mới UTP ở nữ giới cao nhất tại v ng ắc Mỹ (33.000 nữ giới tiếp theo là v ng ắc Âu với 23 7/100.00 nữ giới tỉ lệ này thấp ở các v ng Trung Phi và Tây Phi [41]. Theo công bố của Hiệp hội Ung thư Mỹ năm 2015 số trường hợp ung thư phổi mới mắc là 221.200 và số tử vong là 158.040 trường hợp [19]. * Tình hình g h hổi ở Việ N Tại Việt Nam UTP cũng có bệnh suất cao và chiều hướng gia tăng.

Giai đoạn 1967 - 1971, tại Hà Nội ung thư phổi chiếm 5 9% tổng số ung thư năm 1993 là 15,8/100.000 dân, giai đoạn 1991 – 1995 t lệ này đã tăng lên là 34,9/100. UTP hay gặp nhất ở nam giới chiếm 21 9% ung thư các loại tuy nhiên ở nữ giới UTP cũng chiếm 7 1% đứng hàng thứ 3 tổng số ung Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. H Chí Minh theo Vũ Văn Vũ và cộng sự giai đoạn 1995- 1997 UTP chiếm 16 5% tổng số ung thư ở nam đứng hàng thứ 2 sau ung thư gan ở nữ ung thư phổi đứng hàng thứ 6 chiếm t lệ 5 4% [7]. Năm 2000 ước tính cả nước có 36.786 nữ bị UTP mỗi năm sẽ có thêm 6.905 ca mắc mới.

Trong 1 nghiên cứu thấy 62 55% bệnh nhân khi vào viện không còn khả năng ph u thuật [5]. Theo số liệu của U ban ghi nhận ung thư Việt Nam trong 5 năm đầu của thế k XXI thì UTP đứng hàng đầu trong các loại ung thư ở Việt Nam. Giai đoạn 2001-2004 trung bình mỗi năm ước tính ở Việt Nam có tối thiểu 171000 ca UTP mới mắc trong đó 12900 ca là nam và 4100 ca là nữ.Tỉ lệ thô cho 100.000 dân là 33 0 ở nam và 10 2 ở nữ [1]. Trong năm 2008 Việt Nam có 20.659 ca mắc UTP và tỉ lệ mắc UTP chu n theo tuổi là 37 6/100.

Tại Hội nghị khoa học Hô hấp toàn quốc năm 2015 số liệu thống kê ung thư phổi mới mắc ở Việt Nam năm 2012 là 21.865 trường hợp trong đó nam 16.082 trường hợp nữ 5.783 trường hợp t lệ tử vong 19 56%. Các yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh ung thư phổi Từ năm 1950 lần đầu tiên người ta đã chứng minh mối liên quan giữa UTP với thuốc lá và nhận thấy rằng 80% các UTP liên quan với yếu tố môi trường chế độ ăn uống khói thuốc lá sự nhiễm độc nước không khí điều kiện lao động. Nếu có nhiều yếu tố phối hợp thì nguy cơ mắc UTP càng cao [74], trong đó h t thuốc lá là một trong những yếu tố nguy cơ phổ biến nhất [76], [78]. * Th ố Thuốc lá chứa hơn 4.000 loại hoá chất, 200 loại có hại cho sức khoẻ, khoảng hơn 60 chất chứa vòng Hydrocarbon thơm như: 3 - 4 Benzopyren, các d n xuất Hydrocarbon đa vòng có khí Nitơ Aldehyt Nitrosamin Ceton có tính chất gây ung thư [3], [29].

Hàng năm thuốc lá giết hại khoảng 3000.000 người trên thế giới. Những người hút thuốc có tuổi thọ trung bình ngắn hơn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 người không hút thuốc 5-8 năm và làm tăng t lệ tử vong 30 – 80 %, chủ yếu do mắc bệnh UTP, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và các bệnh tim mạch [3]. H t thuốc lá được coi là yếu tố nguy cơ chính gây nên UTP khoảng 90% trong số 660.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Nồng độ CYFRA 21-1 và CEA trong huyết tương bệnh nhân ung thư phổi tại Thái Nguyên cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của các chỉ số CYFRA 21-1 và CEA trong việc chẩn đoán và theo dõi bệnh nhân ung thư phổi. Nghiên cứu này không chỉ giúp xác định mối liên hệ giữa nồng độ của các chỉ số này với tình trạng bệnh mà còn mở ra hướng đi mới trong việc cải thiện quy trình điều trị và chăm sóc bệnh nhân. Đặc biệt, tài liệu này sẽ hữu ích cho các bác sĩ, nhà nghiên cứu và những ai quan tâm đến lĩnh vực ung thư phổi.

Để mở rộng thêm kiến thức của bạn về ung thư phổi, bạn có thể tham khảo tài liệu Đánh giá đặc điểm lâm sàng cận lậm sàng tỉ lệ pd l1 và egfr trong ung thư phổi không tế bào nhỏ, nơi cung cấp thông tin chi tiết về các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng trong ung thư phổi. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ nồng độ cyfra 21 1 và cea huyết tương ở bệnh nhân ung thư phổi nguyên phát tại bệnh viện đa khoa trung ương thái nguyên cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về nồng độ CYFRA 21-1 và CEA trong huyết tương, từ đó nâng cao khả năng chẩn đoán và điều trị bệnh. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về ung thư phổi và các chỉ số liên quan.