Chương 1 - TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản. Theo Philip Kotler (1931), Nhu cầu là một trạng thái tâm lý của con người, mà trong đó họ cảm thấy thiếu hụt một cái gì đó, mong muốn được thõa mãn và đáp ứng về cả mặt vật chất lẫn tinh thần. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau.
Nhu cầu vật chất là nhu cầu đảm bảo cho người lao động có thể sống để tạo ra của cải vật chất, thoả mãn được nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội, các nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng lên cả về số lượng và chất lượng. Nhu cầu tinh thần là những nhu cầu về mặt tâm lý giúp cho người lao động có tâm lý thoải mái khi làm việc. Giữa nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong quá trình phân phối, nhân tố vật chất chứa đựng yếu tố tinh thần và ngược lại, những động lực về tinh thần phải được thể hiện qua vật chất sẽ có ý nghĩa hơn.
Tuy nhiên, tại mỗi thời điểm con người sẽ ưu tiên thực hiện nhu cầu nào đòi hỏi cấp thiết hơn. Theo Maslow (1943) nhu cầu được chia thành 5 thang bậc từ thấp đến cao: - Nhu cầu cấp thấp: Nhu cầu sinh lý: Bao gồm nhu cầu cơ bản, những nhu cầu cần thiết để con người tồn tại như ăn uống, ngủ nghỉ, các nhu cầu làm cho con người thoải mái,. Nhu cầu an toàn: Nhu cầu cuộc sống được ổn định, an toàn, không bị nguy hiểm. - Nhu cầu cấp cao: Nhu cầu xã hội: Là nhu cầu được giao tiếp, quan hệ với mọi người xung quanh để thể hiện tình yêu và mong muốn được mọi người chấp nhận.
Nhu cầu được tôn trọng: Là nhu cầu tự trọng, mong muốn có quyền lực, địa vị và được người khác quan tâm, tôn trọng mình. Phan Thị Lang K49-QTKD 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Uyên Thương Nhu cầu tự hoàn thiện: Là nhu cầu về chân, thiện, mỹ, mong muốn được phát triển toàn diện về cả trí lực và thể lực.G Theo Clayton Alderfer (1972) con người có 3 nhu cầu cơ bản sau: Nhu cầu tồn tại: Những nhu cầu cần thiết để con người có thể sinh tồn, khỏe mạnh về mặt thể xác và tinh thần như ăn, uống, cuộc sống ổn định, an toàn, không bị nguy hiểm (giống với nhu cầu sinh lý và an toàn của Maslow). Nhu cầu quan hệ: là nhu cầu được giao tiếp và duy trì được những quan hệ với mọi người xung quanh.
Bao gồm nhu cầu xã hội và một phần của nhu cầu tự trọng. Nhu cầu phát triển: Là nhu cầu, mong muốn của con người được phát triển toàn diện về cả trí lực và thể lực. Thuyết này cho rằng khi một nhu cầu của con người không thực hiện được hoặc bị cản trở thì họ có xu hướng chuyển sang thực hiện nhu cầu khác cho thấy rằng con người luôn có sự nổ lực, mong muốn được phát triển nhiều hơn.Vậy muốn người lao động làm việc tốt, sáng tạo, có trách nhiệm trong công việc đòi hỏi nhà quản lý phải hiểu, nắm rõ và giải quyết tốt các nhu cầu của người lao động. Động cơ hoạt động của con người.
Động cơ là sự nổ lực của con người có tác dụng làm động lực thúc đẩy, kích thích con người hành động nhằm thỏa mãn những nhu cầu của cá nhân và đạt được mục tiêu của tổ chức. Các quy luật của động cơ: - Động cơ của con người bao gồm nhu cầu và tình cảm. Đó chính là động lực làm cho con người và xã hội ngày càng phát triển. - Quá trình thỏa mãn nhu cầu được diễn ra theo ba giai đoạn tương ứng với ba trạng thái cảm xúc sau: Giai đoạn thứ nhất: Là giai đoạn thiếu thốn, mất cân bằng trong cơ thể và người lao động phải hoạt động để giải tỏa và lấy lại cân bằng.
Giai đoạn thứ hai: Là giai đoạn con người cảm thấy phấn khởi, thoải mái, dễ chịu khi đã chiếm được đối tượng, nhu cầu để thỏa mãn. Phan Thị Lang K49-QTKD 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Uyên Thương Giai đoạn thứ ba: Là giai đoạn nhu cầu con người đã được thỏa mãn ở trạng thái bão hòa. Họ sẽ cảm thấy chán nản với đối tượng đã được thỏa mãn và tạo ra mất cân bằng làm họ có động lực hoạt động để tìm các đối tượng mới để thỏa mãn nhu cầu.
- Nhu cầu, tình cảm của con người có rất nhiều mức độ khác nhau và có ba mức cường độ: yếu (lòng mong muốn), mạnh (niềm say mê), rất mạnh (đam mê). Động lực và tạo động lực cho người lao động. Động lực lao động. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về động lực do mỗi người có mỗi quan điểm khác nhau nên sẽ có nhận thức khác nhau về động lực.
Theo giáo trình hành vi tổ chức của TS Bùi Anh Tuấn (2011, tr.89) “Động lực là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lưc, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”. Theo giáo trình QTNL của ThS.Nguyễn Vân Điềm – PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân (2007, tr.134) “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó”. Như vậy, động lực xuất phát từ sự nổ lực, cố gắng của bản thân người lao động.
Khi có động lực sẽ dẫn đến tăng năng suất lao động và hoạt động sản xuất kinh doanh được nâng cao, hiệu quả hơn. Để đạt được mục tiêu của mình, doanh nghiệp cần phải tạo động lực cho người lao động. Tạo động lực cho người lao động. Tạo động lực lao động là sự vận dụng một hệ thống chính sách, biện pháp, cách thức quản lý tác động đến người lao động làm cho họ có động lực làm việc để họ hài lòng hơn với công việc.
Các chính sách, biện pháp đề ra phải phù hợp với nhu cầu, mong muốn của người lao động, tạo cho người lao động có niềm tin, sự an tâm để họ nỗ lực làm việc, phát huy năng lực, sức sáng tạo, mang lại kết quả cao. Để đạt được điều đó, nhà quản lý cần phải tìm hiểu để nắm bắt được mục đích hướng tới của người lao động thông qua sự nhận biết về động cơ cũng như nhu cầu của họ. Phan Thị Lang K49-QTKD 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Uyên Thương Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào sự đóng góp, công sức của người lao động.
Vì vậy doanh nghiệp cần phải tạo động lực cho người lao động, nó không chỉ kích thích tâm lý làm việc cho người lao động mà nó còn tăng hiệu quả lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty,… 1. Các lý thuyết về động lực làm việc của người lao động. Học thuyết nhu cầu của Abarham Maslow. Maslow (1943) cho rằng con người có rất nhiều nhu cầu khác nhau.
Căn cứ vào mức độ quan trọng và thứ tự phát sinh trước sau của các nhu cầu, ông đã sắp xếp nhu cầu của con người thành 5 thang bậc theo thứ tự từ thấp đến cao như sau: Nhu cầu Nhu hoàn cầu thiện Nhu cầu bậc được tôn trọng cao Nhu cầu xã hội Nhu Nhu cầu an toàn cầu bậc Nhu cầu sinh lý thấp Sơ đồ 1- Tháp nhu cầu của Maslow (Nguồn: Abarham Maslow (1943)) Nhu cầu sinh lý: Bao gồm nhu cầu cơ bản nhất, những nhu cầu cần thiết để con người tồn tại như ăn uống, ngủ nghỉ, các nhu cầu làm cho con người thoải mái,. Nhu cầu an toàn: Nhu cầu cuộc sống được ổn định, an toàn, không bị nguy hiểm như sống ở nơi có an ninh, xã hội có pháp luật, Nhu cầu xã hội: Là nhu cầu được giao tiếp, quan hệ với mọi người xung quanh để thể hiện tình yêu và mong muốn được mọi người chấp nhận. Nhu cầu được tôn trọng: Là nhu cầu tự trọng, mong muốn có quyền lực, địa vị và được người khác quan tâm, tôn trọng mình. Phan Thị Lang K49-QTKD 11 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Nguyễn Uyên Thương Nhu cầu tự hoàn thiện: Là nhu cầu về chân, thiện, mỹ, mong muốn được phát triển toàn diện về cả trí lực và thể lực. Theo Maslow, khi mỗi nhu cầu trong số các nhu cầu đó được thoả mãn thì nhu cầu tiếp theo sẽ trở nên quan trọng. Các nhu cầu cấp thấp dễ làm con người thỏa mãn hơn cấp cao vì nó là những nhu cầu thỏa mãn từ bên ngoài và có giới hạn nên sự thỏa mãn nhu cầu đi theo thứ tự từ thấp đến cao. Mặc dù thực tế thì chẳng nhu cầu nào được thoả mãn hoàn toàn nhưng các nhu cầu khi đã được thoả mãn cơ bản thì không còn tạo ra động lực.
Vì thế, theo Maslow, muốn tạo động lực cho người lao động thì trước hết nhà quản lý phải hiểu được người lao động đó đang ở cấp độ nhu cầu nào để từ đó đưa ra các chính sách tạo động lực, các giải pháp phù hợp nhằm thỏa mãn nhu cầu của người lao động, bảo đảm đạt được những mục tiêu của tổ chức. Học thuyết hai nhân tố của Frederic Herzberg. Frederic Herzberg (1959) đưa ra lý thuyết hai yếu tố về sự thỏa mãn công việc và tạo động lực. Ông chia các nhu cầu của con người trong công việc thành hai nhân tố: Nhân tố động viên và nhân tố duy trì.
Nhân tố động viên: Bao gồm các nhân tố liên quan đến sự thỏa mãn đối với công việc như thành tích; sự thừa nhận; trách nhiệm và sự tiến bộ, thăng tiến trong công việc. Nhân tố duy trì: Là tác nhân của sự bất mãn của nhân viên trong công việc tại một tổ chức. Bao gồm các nhân tố thuộc về tổ chức như các chế độ và chính sách của tổ chức, sự giám sát trong công việc, các điều kiện làm việc, lương bổng, các mối quan hệ trong công việc. Nếu các nhân tố động viên được giải quyết tốt sẽ tạo ra sự thỏa mãn cho người lao động làm cho người lao động có động lực làm việc hơn, không giải quyết tốt các nhân tố duy trì sẽ tạo ra sự bất mãn.