chương 1 cũng nêu khái quát được kết cấu 5 chương cùng với phương hướng thực hiện chung của đề tài với hai phương pháp nghiên cứu gồm nghiên cứu định tính và định lượng. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm nghiên cứu 2. Du lịch và khách du lịch Du lịch là hoạt động đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử loài người với nhiều loại hình và mục đích khác biệt.
Tuy nhiên, cho đến hiện nay, cùng với sự gia tăng nhanh chóng trong thu nhập cá nhân, kết hợp cùng sự thuận tiện trong kết nối giao thông và khả năng dễ dàng truy cập các thông tin du lịch dễ dàng trên Internet, con người ngày càng có nhiều điều kiện thuận lợi hơn trong việc di chuyển đến nhiều địa điểm để du lịch nhằm giải quyết đa dạng nhu cầu cho bản thân như khám phá, nghỉ dưỡng hay giải trí… Do đó, khi phải trải qua nhiều yếu tố ảnh hưởng như vậy, khái niệm về du lịch đã có không ít những khác biệt theo thời gian. Tại Việt Nam, Luật Du lịch (2017) định nghĩa “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 1 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”. Bên cạnh đó, Luật Du lịch (2017) cũng giải thích “Khách du lịch là những người đi du lịch hoặc kết hợp du lịch, ngoại trừ trường hợp đi học hoặc làm việc để nhận thu nhập tại nơi đến”. Trên thế giới, Du lịch được xem là một hiện tượng xã hội - văn hoá - kinh tế kéo theo sự chuyển động của con người tới các quốc gia hoặc địa điểm bên ngoài môi trường quen thuộc của họ với mục đích cá nhân hoặc mục đích kinh doanh, nghề nghiệp.
Những người này được gọi là Du khách (cũng có thể gọi là khách du lịch hoặc người đi tham quan) với các hành vi liên quan trực tiếp đến du lịch, trong đó có bao gồm việc chi tiêu (Tổ chức Du lịch Thế giới, n. Qua các khái niệm trên, có thể thấy một số khác nhau trong mục đích du lịch về việc làm, nghề nghiệp. Nhưng nhìn chung, du lịch là khi con người di chuyển ra ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình trong một khoảng thời gian ngắn, để đến một hoặc nhiều nơi khác nhau nhằm thoả mãn các nhu cầu như khám phá, nghỉ dưỡng, giải trí 8 hoặc nghề nghiệp. Trong đó, những người kể trên được gọi là Du khách (hoặc khách du lịch/người đi tham quan).
Ý định du lịch Alegre & Cladera (2009) đã chỉ ra một số nghiên cứu về ý định của du khách đang tập trung vào tìm hiểu các nhân tố quyết định tới ý định thực hiện hành vi. Vì vậy, nghiên cứu về ý định thực hiện hành vi chính là một trong số những chủ đề phổ biến trong nghiên cứu về hành vi của khách du lịch vì ý định tích cực phản ánh mức độ trung thành của khách du lịch (Prayag và cộng sự, 2013). Oliver (2014) từng định nghĩa ý định của một người là khả năng có thể họ sẽ tham gia vào một hành động nào đó. Lý thuyết về hành vi có kế hoạch (The Theory of Planned Behaviour - TPB) chỉ ra rằng khi ý định hành vi của một cá nhân trở nên mạnh mẽ hơn thì sẽ dẫn đến khả năng biến thành hành vi thực tế cao hơn (Ajzen, 1991).
Mặt khác, nghiên cứu của Hoài Nam (2023) đã thể hiện ý định thực hiện chuyến du lịch là mong muốn hoặc cam kết của cá nhân về việc cá nhân đó sẽ tham gia hoạt động du lịch. Đây chính là kết quả sau cùng của một quy trình tâm lý dẫn đến thực hiện hành vi và chuyển động của cơ thể trong thực tế. Do đó, ý định du lịch được coi là một yếu tố trung gian động lực, kết nối giữa động cơ và hành động thực hiện chuyến đi du lịch trong tương lai. Mohaidin và cộng sự (2017) đã nêu ra hai nhóm nhân tố chính tác động đến ý định chọn địa điểm du lịch, cụ thể là các yếu tố kích thích động lực (yếu tố kéo) và các yếu tố thuộc về tâm lý (yếu tố đẩy).
Theo đó, nhóm các yếu tố kéo hay yếu tố kích thích động lực có tác dụng tạo sức hút và khiến khách du lịch hiện thực hoá nhu cầu du lịch của mình, ví dụ như hình ảnh điểm đến, các loại hình dịch vụ hoặc cơ sở giải trí tại điểm đến du lịch đó (Uysal & Hagan, 1993). Nhóm các yếu tố đẩy hay yếu tố tâm lý xuất phát từ những ý tưởng cá nhân của khách du lịch, những ý tưởng này khơi dậy bản thân họ thực hiện chuyến đi. Nói cách khác, các yếu tố này liên quan trực tiếp đến những nhu cầu cá nhân được lên kế hoạch thực hiện hoặc đáp ứng một cách có chủ đích trong chuyến đi của du khách khi họ quyết định chọn lựa địa điểm 9 (I Nengah Subadra và cộng sự, 2019). Một số yếu tố đẩy tác động đến ý định du lịch được I Nengah Subadra và cộng sự (2019) tổng hợp bao gồm thoát khỏi cuộc sống thường nhật, tham quan, thư giãn, tận hưởng các hoạt động du lịch, khám phá, giao tiếp xã hội, nâng cao mối quan hệ, học hỏi điều mới, quan tâm đến văn hóa và thiên nhiên, tham gia các hoạt động và tìm kiếm sự uy tín.
Như vậy, có thể tổng kết ý định du lịch của một người là mong muốn, khả năng hoặc cam kết về việc thực hiện đi du lịch trong tương lai của người đó. Nó có vai trò trong việc trở thành trung gian kết nối giữa động cơ du lịch và hành động du lịch, cũng như chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố chủ quan lẫn khách quan khác nhau. Điểm đến du lịch Thái Lan Tổ chức Du lịch Thế giới (2007) đã định nghĩa điểm đến trong du lịch là một khu vực địa lý, một địa điểm mà ở đó du khách lưu trú ít nhất một đêm. Nơi này sẽ có các tài nguyên du lịch như phong cảnh thiên nhiên, các nhân tố thuộc về tự nhiên hoặc chứa đựng các giá trị về văn hóa, lịch sử… Dựa trên cơ sở đó, các sản phẩm và dịch vụ du lịch được hình thành để cho du khách lựa chọn làm điểm đến nhằm thoả mãn những nhu cầu và mục đích của họ trong hành trình du lịch.
Từ góc độ nghiên cứu, Hoài Nam (2023) cho rằng khái niệm về điểm đến du lịch nên được xem xét như là một đối tượng để thực hiện nghiên cứu, đi đôi cùng sự di chuyển của khách du lịch và ảnh hưởng của họ đến địa điểm đó. Điểm đến du lịch phải có ranh giới về mặt hành chính nhằm phục vụ việc quản lý, cũng như về mặt hình ảnh phải có tính nhận diện cao. Điều này giúp định vị khả năng cạnh tranh với những nơi khác và xây dựng một hình ảnh đẹp mắt trong mỗi du khách. Trong bài nghiên cứu này, Điểm đến du lịch Thái Lan được tiếp cận dưới dạng một khái niệm bao gồm các yếu tố thực tế như ranh giới về hành chính, các địa điểm tham quan, điều kiện cơ sở hạ tầng.
của Thái Lan, cũng như các yếu tố khó định lượng như mức độ nổi tiếng của địa điểm hay hình ảnh thương hiệu du lịch của quốc gia này. Thuyết hành vi hợp lý Lý thuyết hành vi hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) được nghiên cứu đầu tiên vào năm 1967 bởi Icek Ajzen và Martin Fishbein. Lý thuyết này được phát triển dựa trên một số nghiên cứu về tâm lý học xã hội nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa hai yếu tố Thái độ và Hành vi của cá nhân. Vào năm 1975, TRA tiếp tục được hai tác giả nghiên cứu và hoàn thiện và trở thành tiền đề của Thuyết hành vi có kế hoạch.
Theo TRA, yếu tố quan trọng nhất chi phối hành vi con người chính là Ý định thực hiện hành vi. Đồng thời, Ý định thực hiện hành vi cũng chịu sự chi phối từ hai nhân tố Chuẩn mực chủ quan và Thái độ đối với hành vi (Fishbein và Ajzen, 1975). Thái độ đối với hành vi là cảm nhận hoặc đánh giá đối với kết quả thu được sau khi thực hiện hành động cụ thể, cho thấy nhận thức tích cực hoặc tiêu cực của một người về việc triển khai hành động đó. Trong quan hệ tương quan trực tiếp giữa thái độ và kết quả hành động đó, nếu nó mang lại thuận lợi mong muốn cho cá nhân, thì nhiều khả năng họ sẽ gia tăng ý định tham gia vào hành động đó.
Chuẩn mực chủ quan là những nhận thức cá nhân của một người trước các áp lực từ phía xã hội (nhóm tham khảo) để quyết định làm hoặc không làm một hành vi nào đó. Trong đó, đề cập đến khả năng triển khai hành vi của một người có thể bị chịu chi phối trước nhận thức của một hoặc một nhóm người tham khảo quan trọng như người thân gia đình, bạn bè hoặc đồng nghiệp… Thái độ đối với hành vi Ý định Hành vi hành vi Chuẩn mực chủ quan Hình 2.1: Mô hình Thuyết hành vi hợp lý (TRA) Nguồn: Fishbein và Ajzen (1975) 11 2. Thuyết hành vi có kế hoạch Thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior - TPB) được Ajzen (1991) phát triển từ Thuyết hành vi hợp lý (TRA) của Fishbein và Ajzen (1975). TPB được ra đời dựa trên những hạn chế từ lý thuyết trước (TRA) khi cho rằng hành động của cá nhân là từ lý trí chi phối.
Trong đó, nhân tố trọng tâm trong Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) vẫn là Ý định về việc thực hiện hành vi cụ thể của một cá nhân. Tuy nhiên, bên cạnh các nhân tố tác động đến Ý định hành vi như Thái độ hay Chuẩn mực chủ quan, TPB còn được đưa thêm vào nhân tố Nhận thức về kiểm soát hành vi. Yếu tố này liên quan đến đánh giá của một cá nhân về độ dễ dàng hoặc khó khăn khi triển hành động nhất định, điều này dựa trên điều kiện sẵn có của các nguồn lực, khả năng và cơ hội mà người đó sở hữu để thực hiện hành vi. Ajzen (1991) cũng thể hiện rằng khi Thái độ đối với hành vi, Chuẩn mực chủ quan càng thuận lợi và Nhận thức kiểm soát hành vi cũng dễ dàng thì Ý định hành vi của một một người sẽ trở nên gia tăng mạnh mẽ hơn.