Chương 1 Tổng quan về đề tài nghiên cứu (bao gồm sự cần thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, những đóng góp mới của đề tài và cấu trúc đề tài). + Chương 2 Trình bày cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu (tác giả khái quát về Bệnh viện Đa khoa Long An và xây dựng mô hình nghiên cứu để phát triển giả thuyết nghiên cứu bao gồm các nghiên cứu có liên quan đến đề tài, trên cơ sở phân tích ưu nhược điểm của các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước làm cơ sở đề xuất một số vấn đề nghiên cứu mới). + Chương 3 Xây dựng phương pháp nghiên cứu (bao gồm quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu dữ liệu nghiên cứu, thiết kế thang đo và các biến của mô hình). + Chương 4 Xử lý dữ liệu, trình bày kết quả nghiên cứu và thảo luận (Thống kê đặc điểm mẫu nghiên cứu đã thu thập thông qua bảng câu hỏi, phân tích dữ liệu về thực trạng việc sẵn lòng chi trả BHYT cũng như những nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của người bệnh và thân nhân khi khám và điều trị dịch vụ BHYT và những nhân tố tác động đến mức độ hài lòng của người bệnh về nơi khám chữa bệnh).
6 + Chương 5 Kết luận và đề xuất hàm ý quản trị (căn cứ vào kết quả nghiên cứu đưa ra kết luận và đề xuất hàm ý quản trị). 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài 2.1 Bảo hiểm y tế 2.1 Khái niệm BHYT BHYT là một phương thức tài chính nhằm bảo vệ người tham gia khỏi những gánh nặng tài chính mà họ phải gánh chịu nếu gặp phải các rủi ro có liên quan đến sức khoẻ, bệnh tật. Theo luật BHYT Việt Nam năm 2008, BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật BHYT. Theo đó, BHYT giống như các loại hình bảo hiểm khác dựa trên nguyên tắc cơ bản: tập hợp số đông chia sẻ rủi ro, nguy cơ về sức khoẻ và bệnh tật: thu phí từ số đông người khoẻ mạnh để chi trả cho số ít những người đau ốm.
Người tham gia bảo hiểm đóng góp một mức phí từ trước khi đau ốm vào một quỹ BHYT và sẽ được hưởng các quyền lợi về chăm sóc y tế khi đến các cơ sở khám chữa bệnh. Vì vậy, cách thức tham gia BHYT còn được gọi là trả trước cho chi phí KCB.2 Các chủ thể trên thị trường BHYT và mối quan hệ Có ba chủ thể với các chức năng khác nhau nhưng có mối quan hệ rất chặt chẽ và khăng khít trong chu trình BHYT. Người tham gia BHYT (thành viên của quỹ BHYT): Là người đóng phí BHYT hay mua thẻ BHYT theo mức quy định của cơ quan Bảo hiểm và được hưởng mức quyền lợi theo quy định của quỹ. Chủ thể này đôi khi còn được phân biệt chi tiết giữa người mua và người sử dụng thẻ khi có nhiều trường hợp bố mẹ mua thẻ cho con cái, con cái mua thẻ cho bố mẹ già.
Quỹ BHYT: Là đơn vị thực hiện thu phí BH, xây dựng và xác định phạm vi quyền lợi của người tham gia BH và đảm bảo cung cấp dịch vụ y tế cho người tham gia BH. Cơ quan cung cấp dịch vụ y tế: Là các cơ sở KCB, họ thực hiện việc cung cấp 8 các dịch vụ KCB theo hợp đồng với cơ quan Bảo hiểm để đảm bảo quyền lợi về KCB cho người có thẻ BHYT khi họ đến KCB và thanh toán với cơ quan BH về những chi phí đã tiêu tốn để phục vụ bệnh nhân có thẻ BHYT.3 Đặc thù của sức khỏe, dịch vụ chăm sóc sức khỏe Theo tổ chức y tế thế giới WHO[3], sức khỏe là một tình trạng hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải chỉ là không có bệnh. Sức khỏe vừa là phương tiện, vừa là mục tiêu của mọi quá trình phát triển. Đã từ lâu CSSK là một trong số các yếu tố cấu thành cơ bản của hai chỉ tiêu quan trọng phản ánh sự phát triển của quốc gia: chỉ số phát triển con người HDI và chỉ số nghèo khổ HPI.
HDI được Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc UNDP sử dụng để đo lường chất lượng sống của con người ở các quốc gia. Chỉ số này dựa trên 3 chỉ tiêu: (1) Tuổi thọ mong đợi; (2) Trình độ học vấn; (3) Điều kiện kinh tế (thu nhập bình quân đầu người). Chỉ số nghèo khổ HPI để đo lường mức nghèo khổ của một quốc gia. Chỉ số này bao gồm 3 nội dung: (1) Tỉ lệ sinh tồn; (2) Tỉ lệ thất học và thiếu giao tiếp; (3) Tỉ lệ thiếu những điều kiện cho cuộc sống được tôn trọng; Được tổng hợp theo 3 chỉ số là tỉ lệ người không được dùng nước sạch, tỉ lệ người không được chăm sóc y tế, tỉ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi.
Sức khỏe còn là phương tiện quan trọng bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng cuộc sống của các cá nhân cũng như việc đạt mục tiêu phát triển của các quốc gia bởi sự phát triển vững bền của một quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng các nguồn nhân lực trong khi sức khỏe quyết định tới năng suất lao động, khả năng làm việc và học tập của họ. Như vậy, đầu tư cho chăm sóc sức khỏe con người chính là đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội của quốc gia. CSSK vừa mang tính tiêu thụ, vừa mang tính đầu tư. Sức khỏe tốt là kết quả có sự đóng góp to lớn của dịch vụ y tế, đồng thời sức khoẻ tốt lại đóng góp lớn cho sản xuất, nên cũng chính là đầu tư.
Vì vậy, CSSK không chỉ có ý nghĩa về mặt y 9 học, xã hội mà còn có ý nghĩa lớn về kinh tế. CSSK cần được coi như một quyền của con người. Mọi người không bình đẳng với nhau trước sức khỏe. Sự không bình đẳng này có thể có nguyên nhân từ lối sống, điều kiện kinh tế nhưng cũng có thể do cơ địa hay đi truyền.
Chất lượng dịch vụ CSSK: Đối với lĩnh vực KCB thì tiêu chí về chất lượng dịch vụ có thể được hiểu dưới hai góc độ. Chất lượng về mặt chuyên môn như kết quả KCB (khỏi, đỡ, tác dụng phụ.) thì chỉ có bản thân người trực tiếp điều trị biết hoặc có thể được giám sát, đánh giá ít nhiều bởi đồng nghiệp của họ còn người bệnh không phải lúc nào cũng đủ khả năng để đánh giá về chất lượng dịch vụ y tế mà mình sử dụng. Đối với bệnh nhân thì chất lượng dịch vụ KCB được hiểu đơn giản theo các khía cạnh như không phải chờ đợi, được tiếp đón ân cần, nhiệt tình, phòng bệnh vệ sinh sạch sẽ… Chính vì vậy không phải lúc nào bệnh nhân cũng có đủ thông tin để lựa chọn nơi phù hợp để tìm kiếm dịch vụ. Có sự khác biệt lớn giữa nhu cầu và yêu cầu.
Trong lĩnh vực CSSK, nhu cầu có thể được hiểu theo hai cách cơ bản là nhu cầu chuẩn mực và nhu cầu cảm thấy. Nhu cầu chuẩn mực là nhu cầu được nhà chuyên môn (bác sỹ) đánh giá dựa trên cơ sở chuyên môn còn nhu cầu cảm thấy là nhu cầu do cá nhân tự đưa ra. Nhiều khi hai loại nhu cầu trên mâu thuẫn với nhau bởi sự hạn chế về chuyên môn của bệnh nhân. Tương tự, nhu cầu chuẩn mực cũng khác so với yêu cầu khi yêu cầu phản ánh ý thích của cá nhân trên cơ sở tự nguyện chi trả.
Phẫu thuật thẩm mỹ là yêu cầu nhưng nhiều khi không là nhu cầu chuẩn mực, tương tự tiêm phòng ung thư cổ tử cung ở nữ giới là nhu cầu chuẩn mực nhưng nhiều khi lại không là yêu cầu hay nhu cầu cảm thấy. Sự khác biệt này một phần do sự hạn chế của bệnh nhân trong nhiều trường hợp có thể là do sức khỏe tâm thần (người mắc bệnh tâm thần) hay do tình huống đặc biệt (đang trong tình trạng bất tỉnh).4 Khái niệm và thuật ngữ trong nghiên cứu Khám bệnh: là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị cho phù hợp đã được công nhận. Chữa bệnh: là việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được công nhận và thuốc đã 10 được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh. Cơ sở khám, chữa bệnh: là cơ sở cố định hoặc lưu động đã được cấp phép hoạt động và cung cấp dịch vụ KCB.
Cơ sở y, dược tư nhân: là cơ sở do cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và quản lý, điều hành. Giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh: là số tiền phải trả cho mỗi dịch vụ KCB. Hộ gia đình: là những người ở cùng một nhà và ăn cùng mâm từ 03 tháng trở lên. Chủ hộ gia đình: là người đại diện cho hộ, được các thành viên trong hộ thừa nhận.
Người bệnh: là nhừng người có tình trạng bất thường về sức khỏe kéo dài từ một ngày trở lên (ví dụ như ho, sốt, tiêu chảy, đau viêm, tai nạn chấn thương, bệnh mãn tính.), tình trạng bất thường này do người được hỏi nhận thức trả lời hoặc do xác định của nhân viên y tế. Người nhà bệnh nhân: là người trong gia đình đến chăm sóc bệnh nhân hàng ngày, hoặc dẫn bệnh nhân đi khám bệnh. Tiếp cận với dịch vụ KCB y tế công lập: là khả năng mà người sử dụng dịch vụ KCB khi cần có thể đến sử dụng tại nơi cung cấp dịch vụ KCB y tế công lập. Sử dụng dịch vụ KCB y tế công lập: là những người có tình trạng sức khỏe bất thường hoặc khi có nhu cầu đến KCB, mua thuốc hay sử dụng bất cứ hình thức cung cấp dịch vụ KCB nào do các cơ sở y tế công lập.
Công bằng trong tiếp cận và sử dụng dịch vụ KCB: Sự đối xử, sự đáp ứng theo yêu cầu của mỗi người hay mỗi nhóm người khi có nhu cầu KCB thì được sử dụng dịch vụ KCB theo hướng mọi người có bệnh như nhau sẽ được chăm sóc y tế như nhau, không phụ thuộc vào khả năng chi trả. Mức thu nhập của các hộ gia đình: phân loại kinh tế hộ gia đình.