Tổng quan nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt và đóng vai trò nòng cốt trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Bước vào đầu thập niên 2000, cả nước duy trì hệ thống gồm 17 Tổng công ty 91 và 74 Tổng công ty 90 cùng hơn 5.000 doanh nghiệp nhà nước độc lập. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của khu vực này bộc lộ nhiều hạn chế về sức cạnh tranh, năng lực công nghệ và thất thoát nguồn lực tài chính công. Đến tháng 11 năm 2002, số lượng doanh nghiệp công ích tăng đột biến lên 732 đơn vị, chiếm tới 12,77% tổng số doanh nghiệp nhà nước do cơ chế bao cấp bất hợp lý.

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi xuất phát từ sự bất cập của Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995 khi chưa khẳng định đầy đủ tư cách pháp nhân độc lập, chưa tách bạch giữa quyền đại diện chủ sở hữu và quyền tự chủ kinh doanh. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn là làm sáng tỏ những hạn chế mang tính hệ thống của khung pháp lý cũ, phân tích sâu sắc các điểm mới mang tính đột phá của Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003, đồng thời chứng minh rằng luật mới đã tạo lập một nền tảng pháp trị tiến bộ giúp doanh nghiệp nhà nước tối ưu hóa hiệu quả vận hành. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ hệ thống thể chế doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam từ năm 1995 đến giai đoạn chuyển giao thực thi luật mới có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2004. Ý nghĩa nghiên cứu mang tính chiến lược khi đưa ra cơ sở khoa học thúc đẩy tái cấu trúc hơn 90 tổng công ty lớn, chuẩn bị điều kiện pháp lý bình đẳng cho tiến trình đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2006.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết về tư cách pháp nhân trong luật dân sự kinh tế và lý thuyết quản trị công ty hiện đại. Khung phân tích tập trung vào các khái niệm nền tảng bao gồm: chế độ trách nhiệm hữu hạn trong kinh doanh, cơ chế đại diện chủ sở hữu nhà nước chuyên trách, mô hình quản trị công ty mẹ - công ty con và cơ chế đấu thầu cung ứng dịch vụ công ích.

Mô hình nghiên cứu phân định rõ hai nhánh quan hệ pháp lý: nhánh sở hữu vốn nhà nước và nhánh quản trị điều hành doanh nghiệp. Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 đã thể chế hóa việc kiểm soát vốn thông qua tỷ lệ sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc nắm giữ cổ phần chi phối, thay thế cho tư duy hành chính can thiệp trực tiếp trước đây. Đồng thời, các quy chuẩn về đăng ký kinh doanh được chuẩn hóa với thời hạn 60 ngày hoàn tất thủ tục và nghĩa vụ công khai thông tin qua 5 số báo liên tiếp trong vòng 30 ngày.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn tiếp cận vấn đề dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 91 Tổng công ty nhà nước được thành lập theo Quyết định 90/TTg và Quyết định 91/TTg, kết hợp khảo sát 732 doanh nghiệp công ích đang hoạt động trên phạm vi toàn quốc. Phương pháp chọn mẫu điển hình theo ngành kinh tế kỹ thuật được áp dụng nhằm bao quát 11 lĩnh vực then chốt như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải và xây dựng.

Lý do lựa chọn phương pháp so sánh luật học và phân tích quy phạm là nhằm đối chiếu một cách khách quan giữa 22 bất cập cốt lõi của Luật năm 1995 với các điều khoản cải cách tương ứng trong 10 chương của Luật năm 2003. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt quá trình thu thập tài liệu pháp lý, báo cáo tổng kết thực tiễn giai đoạn 1995 - 2004 và hoàn thiện hệ thống luận điểm khoa học vào năm 2005.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, Luật năm 2003 đã xóa bỏ việc phân loại cứng nhắc mô hình doanh nghiệp công ích, chuyển hẳn sang cơ chế quản lý theo hoạt động công ích. Trước đây, tiêu chí đòi hỏi tối thiểu 70% doanh thu từ dịch vụ công trong 2 năm liên tiếp theo Nghị định 56/CP đã khiến 732 doanh nghiệp ỷ lại vào ưu đãi độc quyền. Luật mới xác định rõ danh mục sản phẩm thiết yếu và mở rộng cơ chế giao kế hoạch, đặt hàng, đấu thầu minh bạch cho 100% các thành phần kinh tế cùng tham gia.

Thứ hai, mở rộng phạm vi khái niệm doanh nghiệp nhà nước, bao gồm cả các công ty do Nhà nước nắm giữ toàn bộ vốn điều lệ và doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối hoạt động theo Luật Doanh nghiệp năm 1999. Điều này tạo hành lang pháp trị linh hoạt để chuyển đổi 91 Tổng công ty nhà nước sang mô hình tập đoàn kinh tế và công ty mẹ - công ty con liên kết bằng đầu tư tài chính thay vì mệnh lệnh hành chính.

Thứ ba, xác lập địa vị pháp lý độc lập và quyền tự chủ kinh doanh thực chất cho doanh nghiệp. Khắc phục tình trạng cơ quan chủ quản can thiệp sâu, Hội đồng quản trị được trao quyền đại diện trực tiếp phần vốn nhà nước, có quyền tuyển chọn và ký hợp đồng thuê Tổng giám đốc. Doanh nghiệp được chủ động sử dụng 100% nguồn lực tài sản để liên doanh, liên kết, đồng thời bãi bỏ việc khống chế vô lý các định mức chi phí tiếp thị, quảng cáo.

Thứ tư, minh bạch hóa trách nhiệm tài chính và chuyển đổi sang chế độ trách nhiệm hữu hạn. Nhà nước chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn cam kết đầu tư, chấm dứt việc ngân sách nhà nước gánh chịu rủi ro vô hạn cho các khoản nợ của doanh nghiệp.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của tình trạng doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả trước năm 2003 bắt nguồn từ việc nhập nhằng giữa chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chức năng thực hiện quyền chủ sở hữu vốn. Việc duy trì chế độ Bộ chủ quản và phân cấp quản lý phân tán tại các Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã làm triệt tiêu tính chủ động của người quản lý doanh nghiệp.

So với các công trình nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào giải pháp cổ phần hóa đơn lẻ, luận văn này cung cấp một cái nhìn hệ thống, chứng minh rằng sự cải cách đồng bộ về địa vị pháp lý là động lực quyết định năng suất và sức cạnh tranh. Dữ liệu nghiên cứu về sự chuyển dịch cơ cấu tổ chức có thể được trình bày trực quan thông qua bảng ma trận phân cấp thẩm quyền giữa Luật năm 1995 và Luật năm 2003, kết hợp biểu đồ cơ cấu phân bổ 91 Tổng công ty qua 11 nhóm ngành then chốt. Cụ thể, ngành công nghiệp chiếm 20,8% với 19 đơn vị, ngành nông nghiệp chiếm 19,8% với 18 đơn vị, ngành giao thông vận tải chiếm 15,4% với 14 đơn vị và ngành xây dựng chiếm 13,2% với 12 đơn vị.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Chính phủ và Bộ Tư pháp cần khẩn trương xây dựng, ban hành đồng bộ hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành nhằm cụ thể hóa các điều khoản của Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003, đảm bảo đạt 100% tiến độ ban hành nghị định quy định chi tiết trong quý IV năm 2005.

Thứ hai, Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển Doanh nghiệp chỉ đạo đẩy mạnh tái cơ cấu 91 Tổng công ty nhà nước, đặt mục tiêu chuyển đổi thành công tối thiểu 80% số tổng công ty sang mô hình công ty mẹ - công ty con trong giai đoạn 2005 - 2007, lấy liên kết đầu tư vốn làm trọng tâm.

Thứ ba, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì thiết lập mô hình cơ quan chuyên trách đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước, kiên quyết xóa bỏ quyền can thiệp hành chính của cơ quan chủ quản tại 100% các bộ ngành và địa phương trước năm 2008.

Thứ tư, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chuẩn hóa quy trình đấu thầu cung ứng dịch vụ công ích tại địa phương, mở rộng sân chơi cho khu vực tư nhân nhằm tiết kiệm từ 10% đến 15% chi phí ngân sách chi trả hàng năm từ năm 2006 trở đi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cơ quan hoạch định chính sách, đại biểu Quốc hội và chuyên viên xây dựng pháp luật kinh tế tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính. Luận văn cung cấp hệ thống luận cứ thực chứng và kinh nghiệm lập pháp để xử lý 22 điểm nghẽn thể chế trong quá trình hoàn thiện khung khổ pháp lý cho doanh nghiệp.

Thứ hai, các thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc và đội ngũ quản lý cấp cao tại 91 Tổng công ty nhà nước và các doanh nghiệp quy mô lớn. Công trình này là tài liệu tham khảo thiết thực về cơ chế vận hành mô hình công ty mẹ - con, quyền quản lý vốn và kỹ năng đàm phán hợp đồng thuê điều hành.

Thứ three, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại quốc tế và Quản trị kinh doanh. Luận văn cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh và phương pháp so sánh luật học mẫu mực phục vụ việc giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu.

Thứ tư, đội ngũ luật sư tư vấn doanh nghiệp, các nhà đầu tư tư nhân và tổ chức tài chính quốc tế. Luận văn giúp nắm bắt lộ trình tái cấu trúc sở hữu, cơ hội tham gia đấu thầu dịch vụ công và mua bán cổ phần chi phối tại các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa.

Câu hỏi thường gặp

Khái niệm doanh nghiệp nhà nước theo Luật năm 2003 có điểm gì mở rộng so với Luật năm 1995? Theo Điều 1 Luật năm 2003, doanh nghiệp nhà nước không chỉ gồm đơn vị do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ mà còn bao gồm cả các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn có trên 50% vốn góp hoặc cổ phần chi phối của Nhà nước hoạt động theo Luật Doanh nghiệp năm 1999.

Tại sao Luật năm 2003 lại bãi bỏ việc phân loại riêng biệt mô hình doanh nghiệp công ích? Việc phân loại cũ dẫn đến tình trạng 732 doanh nghiệp lợi dụng tiêu chí 70% doanh thu để hưởng bao cấp tài chính và độc quyền. Luật mới chuyển sang quản lý theo hoạt động công ích thông qua cơ chế đấu thầu, đặt hàng bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế.

Mô hình 91 Tổng công ty nhà nước được chuyển đổi như thế nào theo khung pháp lý mới? Luật năm 2003 bãi bỏ sự gán ghép hành chính cơ học giữa các đơn vị thành viên độc lập, chuyển 17 Tổng công ty 91 và 74 Tổng công ty 90 sang mô hình công ty mẹ - công ty con gắn kết chặt chẽ bằng quan hệ sở hữu vốn và tài chính.

Quyền tự chủ tài sản của doanh nghiệp nhà nước được cải thiện ra sao? Doanh nghiệp được thực hiện đầy đủ các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản được giao để kinh doanh, thế chấp, cho thuê và không còn bị khống chế cứng nhắc về mức chi tiếp thị hay tiền thưởng năng suất lao động.

Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 đóng góp gì cho tiến trình Việt Nam hội nhập WTO? Luật đã bãi bỏ các biện pháp bảo hộ không theo tiêu chí thương mại tại Điều 25 cũ, đảm bảo sự đối xử bình đẳng giữa các thành phần kinh tế phù hợp với Điều 17 của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại GATT.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện 22 nhược điểm cố hữu của Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995, chỉ rõ nguyên nhân kìm hãm hiệu quả sản xuất kinh doanh của khối doanh nghiệp nhà nước.
  • Khẳng định tính đột phá của Luật năm 2003 trong việc mở rộng khái niệm doanh nghiệp nhà nước và thay thế cơ chế bao cấp công ích bằng hình thức đấu thầu công khai.
  • Làm rõ cơ chế phân định minh bạch giữa quyền chủ sở hữu vốn của Nhà nước và quyền tự chủ kinh doanh gắn liền với trách nhiệm hữu hạn của Hội đồng quản trị.
  • Đặt nền móng lý luận và thực tiễn vững chắc cho việc chuyển đổi 91 Tổng công ty nhà nước sang mô hình tập đoàn kinh tế và công ty mẹ - công ty con hiện đại.
  • Thiết lập hành lang pháp lý tương thích với các chuẩn mực thương mại quốc tế, tạo tiền đề quyết định cho Việt Nam hoàn tất đàm phán gia nhập WTO trong giai đoạn 2005 - 2006.

Trong giai đoạn 2005 - 2010, hệ thống thể chế kinh tế cần tiếp tục tiến tới việc thống nhất một đạo luật doanh nghiệp chung cho mọi thành phần kinh tế. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp hãy khai thác sâu sắc các kết quả nghiên cứu của luận văn để nâng cao năng lực quản trị, thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước phát huy đúng vai trò đầu tàu trong thời kỳ đổi mới và hội nhập sâu rộng.