CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHĨA VỤ VÀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI ĐẠI DIỆN PHẦN VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm và đặc điểm vốn nhà nước tại doanh nghiệp 1. Khái niệm vốn nhà nước tại doanh nghiệp Theo quan điểm của Karl Marx, vốn là tư bản, mà tư bản được hiểu là giá trị mang lại giá trị thặng dư4. Một trong những điều kiện quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp đó chính là nguồn vốn.
Như vậy, hiểu một cách thông thường, vốn là toàn bộ giá trị vật chất được doanh nghiệp đầu tư để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Hiện nay, hầu hết các quốc gia ở những mức độ khác nhau đều có doanh nghiệp có vốn nhà nước. Kể cả các nước có nền kinh tế thị trường phát triển đều có sự can thiệp nhất định của Nhà nước vào nền kinh tế thông qua đầu tư vốn vào doanh nghiệp5. Sự thành công của nền kinh tế thị trường ở nhiều nước từ Tây Âu đến Bắc Mỹ và cả châu Âu đã chứng minh cho tính tất yếu của nền kinh tế thị trường trong sự phát triển của các quốc gia6.
Tuy nhiên, mô hình kinh tế thị trường vẫn chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn đòi hỏi sự can thiệp của Nhà nước. Các yếu tố đó bao gồm: (i) Luôn luôn có nguy cơ mất cân đối cung – cầu tạo ra các cuộc khủng hoảng thừa hoặc khủng hoảng thiếu; (ii) Vì mục tiêu lợi nhuận và cạnh tranh, doanh nghiệp ít quan tâm đến lợi ích toàn cục, lợi ích cộng đồng (gây ô nhiễm, phá hoại môi trường, trốn tránh luật pháp, gian lận thương mại…); (iii) Kinh tế thị trường về bản chất là mô hình làm giàu cho thiểu số, tự nó không thể làm giàu cho mọi người7 … Trong bối cảnh đó, sự can thiệp của Nhà nước như một lẽ tất yếu, là kim chỉ nam định hướng cho nền kinh tế thị trường. Lịch sử đã chứng minh rằng, các nền kinh tế thị trường thành công nhất đều không thể phát triển một cách tự phát nếu thiếu sự can thiệp và hỗ trợ của Nhà nước. Vì thế, ở nhiều quốc gia, Nhà nước bỏ vốn đầu tư vào các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực mà Nhà nước cần độc quyền, hoặc lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không muốn làm hoặc không thể làm, nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế, đồng thời góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.
Việc Nhà nước đầu tư vốn vào 4 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2019), Giáo trình kinh tế chính trị Mác-Lênin, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, tr.58 5 Phạm Tuấn Anh (2021), Trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 37 6 Phạm Tuấn Anh, tlđd (5), tr. 37 7 Chuyên đề 6: Nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế của Việt Nam (2019), tr.17 7 các doanh nghiệp đã hình thành nên khái niệm vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp là một bộ phận cấu thành vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp, có nguồn gốc ban đầu từ ngân sách Nhà nước8. Các doanh nghiệp được Nhà nước đầu tư vào được gọi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước. Trong trường hợp Nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ, Nhà nước sẽ là chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp. Ngược lại nếu Nhà nước chỉ đầu tư một phần trong tổng số vốn điều lệ thì Nhà nước chỉ là một trong các đồng chủ sở hữu.
Vốn nhà nước là một loại tài sản của chủ sở hữu Nhà nước, vì vậy, chủ sở hữu vốn nhà nước có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản này. Tuy nhiên, khác với chủ sở hữu tư nhân, Nhà nước là chủ thể nhiều cấp độ với lượng vốn sở hữu vô cùng to lớn. Theo sự phát triển của kinh tế thị trường, quy mô, sự phân bố của vốn nhà nước ngày càng lớn, do đó đặt ra yêu cầu phải quản lý và sử dụng nguồn vốn nhà nước một cách có hiệu quả nhất đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong quan hệ sở hữu Nhà nước, quyền sở hữu vốn của Nhà nước được thực hiện gián tiếp thông qua việc Nhà nước giao quyền chiếm hữu, sử dụng vốn nhà nước cho chủ thể đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước.
Khi trao quyền quản lý và sử dụng cho các chủ thể khác, Nhà nước phải có những quy định rõ ràng để vừa ràng buộc trách nhiệm, vừa tạo động lực sử dụng các yếu tố thuộc sở hữu Nhà nước một cách có hiệu quả nhất9. Ở Việt Nam, vốn Nhà nước tại doanh nghiệp được xác định bao gồm nhiều loại như: Một là, vốn từ ngân sách nhà nước, vốn tiếp nhận có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước: là tất cả các nguồn vốn được tính dựa trên các khoản thu, chi của Nhà nước, trong đó bao gồm các nguồn từ ngân sách trung ương tới ngân sách địa phương10. Nguồn vốn ngân sách nhà nước chủ yếu từ các khoản thuế, phát hành tiền, lệ phí, nhận viện trợ, bán tài sản và đóng góp tự nguyện11. Hai là, vốn từ quỹ đầu tư phát triển tại doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp: Quỹ đầu tư phát triển được trích lập từ lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp và được sử dụng vào việc đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp.
Việc trích và sử dụng quỹ đầu tư phát triển phải theo chính sách tài chính hiện hành đối với từng loại doanh nghiệp hoặc quyết định 8 Phạm Thị Thanh Hòa (2012), Cơ chế quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại Doanh nghiệp ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện tài chính, tr.3 9 Phạm Tuấn Anh, tlđd (5), tr.38 10 Khoản 1 Điều 6 Luật Ngân sách nhà nước 2015. 11 Khoản 1 Điều 5 Luật Ngân sách nhà nước năm 2015. 8 của chủ sở hữu. Doanh nghiệp không tiếp tục trích quỹ dự phòng tài chính.
Chủ sở hữu doanh nghiệp ra quyết định chuyển số dư quỹ dự phòng tài chính vào quỹ đầu tư phát triển12. Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp có nguồn thu bao gồm các quỹ như: Thu từ cổ phần hóa; thu từ các hình thức sắp xếp, chuyển đổi doanh nghiệp; kinh phí hỗ trợ theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; lãi tiền gửi của quỹ tại ngân hàng; tiền phạt chậm nộp; các khoản khác theo quy định của pháp luật. Việc quản lý và sử dụng quỹ; báo cáo, quyết toán; lưu trữ hồ sơ, chứng từ phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật hiện hành. Đơn vị quản lý quỹ phải mở tài khoản riêng để theo dõi các khoản thu, chi của quỹ; mở sổ kế toán để hạch toán rõ ràng, đầy đủ, kịp thời các giao dịch phát sinh.
Ba là, vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh là khoản tiền mà khi đến hạn trả nợ, bên vay không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Chính phủ cam kết bằng văn bản bảo lãnh với bên cho vay về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi. Tín dụng đầu tư phát triển là tín dụng do Nhà nước thực hiện để hỗ trợ các dự án đầu tư phát triển của các thành phần kinh tế thuộc một số ngành, lĩnh vực, chương trình kinh tế lớn của Nhà nước và các vùng khó khăn cần khuyến khích. Tín dụng đầu tư của Nhà nước là sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua các hình thức tín dụng để tài trợ các dự án đầu tư phát triển thuộc các lĩnh vực, ngành nghề, khu vực Nhà nước cần khuyến khích đầu tư. Hoạt động quản lý vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng phát triển và việc tổ chức triển khai công tác tín dụng đầu tư của Nhà nước.
Nguồn vốn tín dụng đầu tư là một kênh vốn quan trọng của vốn Nhà nước đáp ứng cho đầu tư phát triển ngoài các kênh vốn khác như vốn ngân sách, vốn trái phiếu chính phủ…13 Bốn là, vốn khác được Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp. Như vậy, vốn nhà nước tại doanh nghiệp được tiếp cận dưới dạng liệt kê các loại nguồn vốn: “Vốn nhà nước tại doanh nghiệp bao gồm vốn từ ngân sách nhà nước, vốn tiếp nhận có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; vốn từ quỹ đầu tư phát triển tại doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp; vốn tín dụng do Chính phủ 12 “Chế độ kế toán doanh nghiệp”, https://sites.com/thong-tu-200/tk-414-quy-dau- tu-phat-trien, truy cập ngày 04/06/2022. 13 “Tín dụng đầu tư phát triển là gì? Quy định về tín dụng đầu tư phát triển?”, https://luatminhkhue.vn/tin- dung-dau-tu-phat-trien-la-gi---quy-dinh-ve-tin-dung-dau-tu-phat-trien.aspx, truy cập ngày 04/06/2022. 9 bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn khác được Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp”14.
Đặc điểm của vốn Nhà nước tại doanh nghiệp Vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp có những đặc điểm chung của vốn kinh doanh và có những đặc điểm riêng của vốn thuộc sở hữu Nhà nước15. Vốn nhà nước có đặc điểm chung của vốn kinh doanh, đó là: vốn là một loại hàng hóa đặc biệt; vốn phải đại diện cho một lượng tài sản thực; vốn được biểu hiện bằng tiền dùng vào đầu tư, kinh doanh với mục đích sinh lời; vốn luôn gắn liền với chủ sở hữu nhất định. Vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở Việt Nam có các đặc điểm riêng sau: Thứ nhất, về chủ sở hữu của vốn nhà nước tại doanh nghiệp: Sự khác biệt giữa vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp với vốn đầu tư của các chủ sở hữu khác chính là ở đặc điểm sở hữu Nhà nước của vốn so với các chủ thể sở hữu khác, điều này được thể hiện như sau: Một là, tư cách chủ sở hữu Nhà nước phức tạp, khó xác định: Nhà nước là một hệ thống phức tạp bao gồm nhiều cơ quan và bộ máy quản lý ở nhiều cấp khác nhau. Do đó, khi nhắc tới Nhà nước như một chủ thể sở hữu thì chủ thể này rất khó xác định cụ thể như trường hợp của các chủ sở hữu là cá nhân và pháp nhân khác.
Nhiều quốc gia trên thế giới quan niệm cơ quan hành pháp (Chính phủ) là chủ thể thực hiện các chức năng chủ sở hữu đối với vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp16.