Chương 1: Tổng quan nghiên cứu 1.1 Các nghiên cứu về việc làm thêm của sinh viên trên thế giới 1.2 Các nghiên cứu về việc làm thêm của sinh viên tại Việt Nam Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu 2. Khái niệm công cụ 2.2 Lý thuyết tiếp cận 2.3 Phương pháp nghiên cứu 2.4 Mô hình nghiên cứu 2.5 Địa bàn nghiên cứu 2.6 Xây dựng bảng hỏi khảo sát Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 3.1 Phân tích thống kê mô tả (Mô tả mẫu nghiên cứu) 3.2 Phân tích độ tin cậy của thang đo 3.3 Phân tích nhân tố khám phá 3.4 Phân tích ma trận hệ số tương quan 3.5 Phân tích hồi quy 3.6 Kết quả phân tích dữ liệu (Kiểm định các giả thuyết thống kê, phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến nhu cầu việc làm thêm của sinh viên) KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 15 NCKH: Nhu cầu việc làm thêm của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh gian (employed person) được định nghĩa là người có số giờ làm việc bình thường ít hơn so với những người làm việc toàn thời gian (worker). Công ước cũng chỉ ra rằng, ngưỡng thông thường để chia công nhân thành lao động toàn thời gian hay bán thời gian hay đổi tuỳ thuộc vào mỗi quốc gia, nhưng thường trong khoảng từ 30-35 giờ mỗi tuần. Ở Hoa Kỳ và Pháp, công việc bán thời gian được quy định là dưới 35 giờ một tuần, Canada và Anh là dưới 30 giờ một tuần, Đức là dưới 36 giờ, trong khi đó ở Nhật Bản, việc quyết định một nhân viên làm bán thời gian hay không do chủ doanh nghiệp phân loại mà không căn cứ vào thời lượng làm việc.
Theo đó, người lao động bán thời gian sẽ làm việc theo ca, mỗi ca được sắp xếp xoay vòng luân phiên giữa các nhân viên. Việc làm thêm là những công việc chủ yếu dành cho lứa tuổi sinh viên. Bởi giai đoạn này, các bạn ngoài thời gian học tập vẫn có thể chọn làm thêm công việc ngoài giờ để tăng thêm kinh nghiệm, kỹ năng hay mở rộng các mối quan hệ, gia tăng thu nhập cho mình. Việc làm thêm cũng là lựa chọn của những người có thời gian rảnh rỗi trong ngày hoặc những người chọn lựa việc làm thêm để theo đuổi sở thích, đam mê của mình.
Hiện nay, việc làm thêm tuyển dụng nhiều đến các đối tượng sinh viên, học sinh cần nhiều kinh nghiệm cho các công việc, hay nghề nghiệp tương đương. Những đặc trưng khi làm việc thêm thường là: + Không đòi hỏi quá cao về năng lực làm việc. + Chưa yêu cầu kinh nghiệm. + Linh động trong bố trí và sắp xếp giờ làm.
+ Không hoặc được hưởng rất ít các chế độ thưởng, phúc lợi của công ty, doanh nghiệp. * Nhu cầu: 18 NCKH: Nhu cầu việc làm thêm của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau. Hình thức biểu hiện nhất định được cụ thể hóa thành đối tượng của một nhu cầu nhất định.
Đối tượng của nhu cầu chính là cái mà nhu cầu hướng đến và có thể làm thỏa mãn nhu cầu đó. Một đối tượng có thể làm thỏa mãn một số nhu cầu, một nhu cầu có thể được thỏa m ãn bởi một số đối tượng, trong đó mức độ thỏa mãn có khác nhau. Tính đa dạng của đối tượng tạo nên sự vô hạn của nhu cầu. Alfred Marshall viết rằng: "Không có số để đếm nhu cầu và ước muốn ".
Về vấn đề cơ bản của khoa học kinh tế - vấn đề nhu cầu con người - hầu hết các sách đều nhận định rằng nhu cầu không có giới hạn. Lý thuyết tiếp cận * Lý thuyết về công việc làm thêm: Theo nghiên cứu của Hielke năm 2004 về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định làm việc bán thời gian ở các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU) cho thấy có 3 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu làm thêm của người lao động gồm: Chu kỳ kinh doanh, Tổ chức thị trường lao động, thể chế luật pháp và Yếu tố cấu trúc khác. - Chu kỳ kinh doanh: Kết quả nghiên cứu của Hielke cho thấy chu kỳ kinh doanh có tác động đến sự biến động tỉ lệ việc làm bán thời gian của cơ cấu lao động trong ngắn hạn và trung hạn, tr ở thành phương tiện điều chuyển lực lượng lao động một cách linh hoạt sao cho phù hợp với từng giai đoạn trong chu kỳ kinh doanh của các doanh nghiệp. Trong thời kỳ suy thoái, những người làm việc theo ca tăng lên do các nhà tuyển dụng cung cấp việc làm bán thời gian như một cách để điều chỉnh số giờ làm việc, tránh cho nhân viên bị sa thải hoặc rơi vào tình trạng thất nghiệp 19 NCKH: Nhu cầu việc làm thêm của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh dài hạn.
Theo đó, chủ doanh nghiệp có thể giảm số giờ làm việc của lực lượng lao động hiện tại hoặc thuê thêm lao động mới làm việc bán thời gian nhằm tiết kiệm chi phí vượt qua giai đoạn khó khăn của chu kỳ kinh doanh. Sự tác động của chu kỳ kinh doanh đến tỉ lệ việc làm bán thời gian ở chỗ người tuyển dụng có thể sử dụng công việc bán thời gian để sàng lọc nhân viên tốt cho vị trí toàn thời gian, hoặc ngược lại cung cấp các hợp đồng toàn thời gian cho nhân viên bán thời gian nhằm giảm thiểu rủi ro không đáng có trong thời kỳ suy thoái của chu kỳ kinh doanh. Về phía người được tuyển dụng, trong hoàn cảnh nền kinh tế giảm sút hoặc tỉ lệ thất nghiệp gia tăng, người lao động sẵn sàng coi công việc bán thời gian thay thế cho lựa chọn công việc toàn thời gian, đồng thời khả năng tham gia thị trường lao động bán thời gian của người có tay nghề thấp hoặc phụ nữ có xu hướng giảm. - Tổ chức thị trường lao động và thể chế luật pháp: Các yếu tố thị trường lao động và thể chế luật pháp có khả năng ảnh hưởng dài hạn đến tỉ lệ lao động bán thời gian.
Các quy định luật pháp hoặc thỏa ước lao động tập thể có thể ảnh hưởng đến sự phát triển việc làm bán thời gian thông qua 3 cơ chế: Thứ nhất, một số quy định về thời gian làm việc làm hạn chế nhà tuyển dụng sử dụng công việc bán thời gian. Thứ hai , quy định về tiền lương, hệ thống bảo trợ xã hội hoặc hệ thống pháp luật thuế trong tương quan so sánh giữa việc làm bán thời gian và toàn thời gian ảnh hưởng đến nguồn cung lao động sẵn sàng tham gia công việc bán thời gian. Thứ ba, các quy định liên quan đến điều kiện để người lao động tự nguyện chuyển đổi công việc từ toàn thời gian sang bán thời gian để dung hòa giữa cuộc sống và sự nghiệp cá nhân, trong khi công việc bán thời gian ngày càng chứng tỏ ưu thế linh hoạt trong việc sắp xếp nhân sự và tiết kiệm chi phí của nhà tuyển dụng. - Yếu tố cấu trúc khác: 20 NCKH: Nhu cầu việc làm thêm của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh Việc làm bán thời gian là cách thức phụ nữ tham gia vào thị trường lao động, biến động tăng giảm tỉ lệ phụ nữ trong cơ cấu dân số tỉ lệ thuận với sự gia tăng tỉ lệ việc làm bán thời gian ở nhiều quốc gia.
Theo Fagan & ctg (1998), các gia đình có nam giới là trụ cột thì phụ nữ được khuyến khích làm việc bán thời gian nhiều hơn so với nam giới. Kết quả lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy có nhiều nghiên cứu liên quan đến nhu cầu việc làm bán thời gian của người lao động. Theo Valletta (2013) khi nghiên cứu những ẩn số đằng sau sự gia tăng của lao động bán thời gian trong các thời kỳ suy thoái của nền kinh tế giai đoạn từ năm 1976 đến 2013 cho thấy: sự tác động của chu kỳ kinh doanh đến tỉ lệ lao động bán thời gian khi nền kinh tế đi xuống, nhu cầu lao động giảm xuống kéo theo số giờ lao động giảm, đồng nghĩa với tỉ lệ thất nghiệp tăng lên. Nghiên cứu của Arne (1995) lại nghiên cứu về việc làm bán thời gian của người lao động Hoa Kỳ ở khía cạnh chính sách.
Các phân tích của ông nhấn mạnh những lợi ích của việc làm bán thời gian đối với cả người sử dụng lao động và nhân viên nhưng các chính sách thu nhập, lợi ích, thăng tiến, phúc lợi xã hội như bảo hiểm, hưu trí…dường như chỉ dành sự ưu ái cho lao động toàn thời gian, chính điều này đã làm giảm hiệu quả công việc và sự trung thành ở người làm việc bán thời gian đối với chủ sở hữu. Susan trong một nghiên cứu về sự tác động của chính sách đối với lao động bán thời gian năm 2015 cho thấy tỉ lệ lao động bán thời gian tại Nhật Bản tăng lên 80% từ năm 1982 đến năm 1992 và chiếm hơn 16% việc làm được trả lương năm 1992 nhờ các ưu đãi về thuế và phúc lợi của chính phủ đối với lao động bán thời gian và người phối ngẫu của họ. * Thuyết nhu cầu Maslow: Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs). 21 NCKH: Nhu cầu việc làm thêm của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh Hình 2.
Tháp nhu cầu Maslow Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mong muốn có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ,…Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này họ sẽ không tồn tại được, nên họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sống hằng ngày. Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản tr ên được gọi là nhu cầu bậc cao. Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, an toàn, vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân,… Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầu bậc cao.