Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 1. Học tập Học là quá trình tương tác giữa cá thể với môi trường, kết quả là dẫn đến sự biến đổi bền vững về nhận thức, thái độ hay hành vi của cá thể đó. Theo quan điểm của tâm lý học hoạt động, hoạt động là mối quan hệ và tác động qua lại giữa con người và thế giới. Trong đó, con người thay đổi thế giới và tạo ra những sản phẩm chứa đựng tâm lý, ý thức và nhân cách của họ.
Đồng thời, thế giới đang phản ứng với việc cung cấp cho mọi người những nhận thức và kỹ năng mới. Nói cách khác, hoạt động là quá trình mà con người thiết lập và duy trì các mối quan hệ cụ thể với môi trường và bản thân họ để đáp ứng nhu cầu của họ. Như vậy, con người thực hiện rất nhiều hoạt động trong cuộc sống như hoạt động lao động, hoạt động học tập, hoạt động vui chơi, hoạt động nghiên cứu khoa học, v. Ở mọi lứa tuổi đều có những hoạt động chính.
Phối hợp các hoạt động khác. Lứa tuổi học sinh hoạt động học tập giữ vai trò chủ yếu. Hoạt động học tập: Là các hoạt động cụ thể của con người được hướng dẫn bởi kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, giá trị, khuôn mẫu hành vi và mục tiêu có ý thức để đạt được các loại hoạt động cụ thể. Kết quả học tập Kết quả học tập của HS hay thành tích học tập của học sinh trong tiếng Anh thường sử dụng các từ như “Achievement; Result; Learning Outcome”.
(10) Theo Từ điển Anh Việt thì: - “Achievement” có nghĩa là thành tích, thành tựu; sự đạt được, sự hoàn thành. - “Result” có nghĩa là kết quả. - “Learning Outcome” là kết quả học tập. 19 Tuy nhiên, ta thường gặp khi đọc tài liệu nói về kết quả học tập là “Learning Outcome”.
Trong cuốn “Cơ sở lý luận của việc đánh giá chất lượng học tập của HS phổ thông”, tác giả Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc đã đưa ra cách hiểu về KQHT như sau: Kết quả học tập là một khái niệm thường được hiểu theo hai quan niệm khác nhau trong thực tế cũng như trong khoa học. Đó là mức độ thành tích mà một chủ thể học tập đã đạt, được xem xét trong mối quan hệ với công sức, thời gian đã bỏ ra, với mục tiêu xác định. Đó còn là mức độ thành tích đã đạt của một học sinh so với các bạn học khác. Kết quả học tập là những kiến thức, kỹ năng và thái độ mà người học có được trong quá trình học tập và rèn luyện tại nhà trường.
Kết quả học tập là minh chứng cho sự thành công của học sinh về kiến thức, kỹ năng, năng lực và thái độ đề ra trong mục tiêu giáo dục (Lê Thị Thu Liễu và Huỳnh Xuân Nhựt, 2009). Xét từ góc độ hành chính, kết quả học tập được thể hiện bằng điểm trung bình cộng của học sinh trong toàn bộ quá trình học tập, còn ở góc độ hiểu, kết quả học tập là toàn bộ những kiến thức mà học sinh đã tiếp thu và tích lũy được trong quá trình học tập. Kết quả học tập thể hiện chất lượng của quá trình giáo dục và được thể hiện trên hai phương diện cả về mặt học thuật và thực tiễn: (1) Mức độ người học đạt được các mục tiêu đã xác định. (2) Phương pháp so sánh kết quả học tập của học sinh với học sinh khác.
Theo Trần Thị Tuyết Oanh và các tác giả (2007), đánh giá kết quả học tập có ý nghĩa quan trọng đối với các quyết định sư phạm của giáo viên, hình thành nền tảng của nhà trường và giáo dục, giúp người học đạt được mục tiêu học tập đã xác định. về trình độ và khả năng của Bản thân học sinh giúp cải thiện việc học tập của họ. Nội dung đánh giá không chỉ bao gồm thành tích học tập hiện tại mà còn bao gồm cả kết quả thi giữa kỳ và cuối kỳ. Kết quả đánh giá chủ yếu được thể hiện bằng điểm theo thang điểm định sẵn.
Theo Nguyễn Thị Mai Trang và nhóm tác giả (2009), kết quả học tập có thể được đo lường thông qua việc sinh viên tự đánh giá quá trình học tập và tìm kiếm việc làm. 20 (2003) Kết quả Kết quả học tập của sinh viên được đánh giá bởi chính sinh viên dựa trên kiến thức và kỹ năng mà họ có được trong quá trình học tập. Khái niệm “Sinh viên” Sinh viên được xác định là những người đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp. Ở đây, họ được tiếp thu, đón nhận các kiến thức một cách đầy đủ về ngành nghề mà họ có thể làm sau này.
Nhìn chung, công việc chủ đạo của con người khi còn là sinh viên chính là học tập và có kết quả học tập tốt để có thể phát triển đất nước sau này. Sinh viên trước hết mang đầy đủ những đặc điểm chung của con người, mà theo Mác là “tổng hoà của các quan hệ xã hội”. Nhưng họ còn mang những đặc điểm riêng: tuổi còn trẻ, thường dao động từ 18 đến 25 dễ thay đổi, chưa định hình rõ rệt về nhân cách, ưa các hoạt động giao tiếp, là những người có tri thức đang được đào tạo chuyên môn. Sinh viên vì thế dễ tiếp thu cái mới, thích cái mới, thích sự tìm tòi và sáng tạo.
Đây cũng là tầng lớp xưa nay vẫn khá nhạy cảm với các vấn đề chính trị- xã hội, đôi khi sẽ tiêu cực nếu không được định hướng tốt. Các lý thuyết về hoạt động học của con người. Thuyết hành vi (Behaviorist theory) Thuyết hành vi xuất hiện những năm 1980 bởi nhà sinh học người Nga, Ivan, Petrovich Pavlov thông qua nghiên cứu quá trình tiết nước bọt của chó khi được cho ăn. Ý tưởng cơ bản của chủ nghĩa hành vi là học tập bao gồm một sự thay đổi trong hành vi do thu nhận, củng cố và áp dụng các mối liên hệ giữa các kich thích từ môi trường và các phản ứng quan sát được của cá nhân.
Thuyết hành vi nhấn mạnh rằng: phản ứng với một kích thích được củng cố theo sau là một hiệu ứng khen thưởng tích cực; phản ứng với một kích thích trở nên mạnh mẽ hơn khi luyện tập lặp đi lặp lại. Nói tóm lại, đó là cơ chế kích thích và phản ứng. Thông qua những kích thích về nội dung, phương pháp dạy học và đánh giá (ví dụ: điểm cao cho các câu trả lời đúng, điểm thấp cho các câu trả lời sai.), người học có những phản ứng tạo ra những hành vi học tập và qua việc luyện tập đó, thay đổi hành vi của mình. Thuyết phát triển nhận thức (Cognitive development theory) 21 Thuyết phát triển nhận thức được tạo ra bởi Jean Piaget.
Lý thuyết phát triển nhận thức của Piaget đề cập đến những thay đổi trong quá trình và khả năng nhận thức. Theo quan điểm của Piaget, sự phát triển nhận thức ban đầu bao gồm các quá trình dựa trên các hành động và sau đó tiến triển đến những thay đổi trong hoạt động trí óc. Nội dung của thuyết phát triển nhận thức bao gồm 4 giai đoạn: giai đoạn cảm giác, giai đoạn tiền thao tác cụ thể, giai đoạn thao tác cụ thể, giai đoạn tư duy logic. Nhìn chung 4 giai đoạn là sự phát triển dần về tư duy, nhận thức của một con người.
Nói tóm lại, thuyết hành vi nhận thức cho ta thấy rằng, để có sự phát triển lên những bậc cao hơn, những bài học qua những thời kì cần có sự xây dựng theo cách mà thông tin mới cần được dựa vào những kinh nghiệm và kiến thức trước đây kết hợp sự cải cách lên cao dần. Khi giảng dạy giáo viên cần thiết kế nội dụng, nhiệm vụ học tập phù hợp với đặc điểm nhận thức của con người ở thời điểm đó. Cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu Tác giả đã tiến hành thu thập các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng tại một số nơi ở các tỉnh khác nhau: Tại Trường Đại học Công nghệ thông tin (ĐHQGHN), nhóm tác giả đã xác định có đến 7 nhân tố cũng như mức độ tác động của các nhân tố đó đến kết quả học tập của sinh viên là sở thích học, cơ sở vật chất, áp lực bạn bè, năng lực trí tuệ, học bổng, động cơ của bố mẹ. Hay tại khoa ngoại ngữ - đại học Thái Nguyên, sau khi tiến hành phân tích, tác giả thu nhận được những nhân tố có tác động đến kết quả học tập,….
Sau khi tiến hành phân tích, các tác giả đều đưa ra được một số giải pháp cho khu vực mà mình đang nghiên cứu. Ví dụ về phía giảng viên thì cần nên kết hợp nhiều phương pháp giảng dạy, cần sát sao với việc học hơn. Hay về phía sinh viên thì cần kết hợp phương pháp học tập đa dạng để môn học trở nên dễ dàng, thú vị hơn. 22 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1: Với chương 1, bài nghiên cứu đã đề câp được đến cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài.
Đầu tiên, tác giả đã nếu ra các khái niệm như học là gì, kết quả học tập là gì, đối tượng sinh viên là ai? Tiếp đó, tác giả trình bày cùng lý thuyết nền cho đề tài nghiên cứu bao gồm thuyết hành vi (Behaviorist theory), thuyết Thuyết phát triển nhận thức (Cognitive development theory). Ở phần cơ sở thực tiễn, tác giả đã lấy một vài ví dụ nghiên cứu mà các tác giả khác đã thực hiện ở các địa bàn khác hết hợp với việc đưa ra các giải pháp cụ thể cho khu vực đó. Hai yếu tố này có ý nghĩa quan trọng để có thể nhìn được những nhân tố có thể tác động đến KQHT của sinh viên cũng như có một vài giải pháp, kiến nghị có thể có tại Hà Nội. 23 Chương 2: Kết quả phân tích và nghiên cứu 1.
Phân tích nhân khẩu học Nội dung này thống kê một số kết quả của các dữ liệu trong bảng hỏi, tập trung vào phần mô tả thống kê về những thông tin của những người tham gia trả lời bảng hỏi. Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng điều tra bao gồm giới tính, là sinh viên năm thứ mấy. Thông tin về nhân khẩu được thể hiện trên Bảng 3. Tần số Tỷ lệ Giới tính Nam 89 30,69% Nữ 201 69,31% Năm học Năm 1 31 10,1% Năm 2 123 42,4% Năm 3 67 23,1% Năm 4 69 24,4% Bảng 3: Mô tả điều tra Theo khảo theo giới tính, trên 290 mẫu khảo sát đạt chuẩn, có 30,69% tương ứng 89 người tham gia là nam, có 69,31% tương ứng 201 người tham gia là nữ.