CHƯƠNG 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những vấn đề liên quan đến nhu cầu 1. Những nghiên cứu về nhu cẩu ở nước ngoài Những nghiên cứu ban đầu về nhu cầu cho rằng nhu cầu của con người có nguồn gốc sinh học.
Người dau tiên phải kẻ đến là S. Ông đưa ra giả thuyết nhu câu sinh vật tương ứng với khuynh hướng của những hành vi thích hợp. Đầu thé ki XIX, Small (nhà tâm lý học người Mỹ) đã thấy những hoạt động tâm ly của cá nhân bắt nguồn từ những nhu cầu của nó (về của cải, quyền lực, sự tán thành của người khác.6] Cho đến giữa thé ki XIX, V.nghiên cứu các kiểu hành vi động vật được thúc đấy bởi nhu cầu và đưa ra thuật ngữ “/uật hiều ứng " đề giải thích sự liên hệ giữa kích thích và đáp ứng của cơ thẻ. Trên cơ sở này, ho đã đề xướng lý thuyết nhu câu cơ thé quyết định hành vi.
Cuối thế ki XIX, S.Freud đưa van dé nhu cầu vào Ly thuyết bản năng của con người.Freud, lực vận động hành vi con người nằm trong bản năng. Ông khăng định tất cả hành ví của con người đều hướng tới việc mong muốn thỏa mãn những nhu cầu cơ thé.7] Vào cuối những năm 30 thế ki XX, xuất hiện hàng loạt các nghiên cứu về nhu cầu của con người. Ching hạn như K.Maslow, Herry Murray.Các nghiên cứu này đã cố gắng chứng minh nhu cầu của con người có nguôn gốc sinh học và cả nguồn gốc xã hội.Lewin, thuộc trường phái tâm lý học Gestalt cho rằng, dưới tac động của loại nhu cầu nào đó, trạng thái căng thing sẽ xuất hiện, đồng thời ở chủ thể cũng xuất hiện sự liên tưởng có liên quan với nhu cầu. Những nhân tế thực của hoạt động tâm lý con người không chi xuất phát từ nhu cầu cơ thé ma còn được xuất phát từ nhu cầu xã hội.7] Ly thuyết vẻ nhu câu của A.Maslow chia nhu cau của con người ra năm loại: nhu cau sinh lý, nhu cau an toản, nhu cầu được thừa nhận, nhu cầu vẻ sự tự trọng và nhu cầu tự thê hiện.
Năm loại nhu cầu này được chia thành nhu cau cấp cao (nhu cầu tự thực hiện, nhu cầu được thừa nhận, nhu cầu yêu thương, lệ thuộc) và nhu cầu cấp thấp (nhu cầu an toàn, nhu cầu sinh lý). Những nhu câu này xuất hiện theo thứ tự trong quá trình phát triển chủng loại. cũng như phát triển của cá nhân. Đồng thời, đây cũng là trình tự thỏa mãn các nhu cầu đó.
Nếu nhu câu cấp thấp không được thỏa mãn thì nhu cầu cấp cao cũng không thẻ thực hiện [2, tr. Nhu vậy, theo lý thuyết về nhu cau của A.Maslow thì nhu câu giải trí thuộc vào nhu câu tự thực hiện và là nhu câu cấp cao của con người. Herry Murray, khi nghiên cứu vé vấn đề nhu cầu đã khẳng định: nhu cau là một tô chức cơ động, hướng dẫn và thúc day hành vi. Nhờ có nhu cầu mà hoạt động mang tính chất có mục đích.
Do đó, hoặc là đạt được sự thỏa man nhu cau, hoặc là ngăn ngừa sự đụng độ khó chịu với môi trường. Nhu cau ở mỗi người khác nhau về cường độ, mức độ; đồng thời các loại nhu cầu chiếm ưu thé cũng khác nhau ở mỗi người.9] Đến nửa cuối the ki XX có rất nhiều quan niệm khác nhau vẻ nhu cầu con người được bô sung và trình bày trong các công trình nghiên cứu của Mc. Các tác giả này nhắn mạnh hơn đến nguồn gốc xã hội của nhu cầu.Clelland cho rằng động cơ thúc đây con người có thê hiểu theo nghĩa “thu cau” chit không phải “sinh hý" [15, tr. Ông nhắn mạnh tam quan trọng của nhu cau xã hội, nhất là nhu câu thành tựu và nhu cau hội nhập.
Ly thuyết tập trung con người của C.Rogers nhắn mạnh tầm quan trọng của cái tôi và sự phát triển cá nhân. Ông cho rằng con người ai cũng có hai nhu câu cơ ban. Thứ nhất là nhu cầu thê hiện day du tiềm năng của minh, tức là tạo ra những khía cạnh cái tôi dich thực. Ông xem đây là sự phan đấu tích cực đổi với sự phát trién cá nhân.
Đây là như cau cơ bản ở mọi người, phái được thỏa man néu không sé sinh ra rỗi loạn tâm lý. Thứ hai là nhu câu tôn trọng tích cực - tinh cảm thương yéu hay tôn trọng từ người khác. Ong khang định, điều kiện dé tâm lý khỏe mạnh là cả hai nhu câu nay phải được thỏa man. 10] Cùng quan điểm cho rằng nhu cau con người có nguồn gốc sinh học và nguồn gốc xã hội, một số nhà Tâm lý học Liên Xô đã đi sâu nghiên cứu vẻ mặt xã hội của nhu cầu.Uznatze là người đầu tiên trong tâm lý học Liên Xô đẻ cập khá sâu sắc đến van đề nhu cau và ý nghĩa của nỏ đối với hoạt động của con người trong cudn sách Tâm ly học đại cương xuất ban năm 1940.
Theo ông, nhu cầu là yêu tổ đặc trưng cho một cơ thẻ sống, là cội nguồn của tính tích cực và phát trién tương ứng với sự phát triển của con người. Khi một nhu câu cụ thé nao đó xuất hiện, chủ thé hướng sức lực của mình vảo hiện thực khách quan nhằm thỏa mãn nhu cau đó. Điểm nỏi bat trong nghiên cứu của A.Leonchiev là đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa nhu cau và hoạt động. Ông cho rằng: nhu câu có nguồn gốc trong hoạt động thực tiễn.
Mỗi liên hệ giữa hoạt động với nhu cầu được ông mô tả bằng sơ đồ: Hoat động - Nhu cau - Hoạt động [II, tr. Nghĩa là nhu cầu nảy sinh trong quá trình hoạt động và sau đó quay trở lại chi phối hoạt động của con người. Luận điểm này cho rằng nhu cầu của con người được sản xuất ra. Đó là luận điểm có ý nghĩa đối với tâm lý học.
Ông còn cho rằng: nhu cầu của con người không chỉ được sản xuất ra mà còn được cải biến ngay trong quá trình sản xuất và tiêu thy và đó chính là mâu chót dé hiệu được ban chất của các nhu cầu của con người. Trong các công trình nghiên cứu của minh, X.Rubinstêin đã nhân mạnh sự can thiết của con người về một “cái gì đó" nằm ngoài cơ thé. “Cái gì dé" chính là đối tượng của nhu cầu, có khả năng đem lại sự thỏa mãn nhu cau thông qua hoạt động của chủ thé, X.Rubinstéin đã chia nhu câu của con người thành ba cấp độ: ý hướng, ý muốn, ý định. Từ quan niệm của X.Rubinstêin về nhu cầu, ta thấy, nhu cầu của con người vừa mang tính thụ động vừa mang tính tích cực.
Cụ thé: nhu cau là sy đòi hỏi cần được thỏa mãn ở chủ thể, nhưng được thỏa mãn hay không lại phụ thuộc vào hệ thông các đối tượng trong điều kiện cụ thé (tính thụ động); mặt khác, nhu cầu sẽ thúc đẩy chủ thể tích cực tìm kiếm đối tượng, phương thức, phương tiện thỏa man nhu cầu (tính tích cực). Tóm lại, việc nghiên cửu về nhu cầu nói chung đã được các nhà Tâm lý học va các ngành khoa học khác quan tâm. Trong đó, van đề được chú ý nhất là đối tượng, phương thức thỏa mãn nhu cầu cũng như các yếu tế thúc đây, cản trở nhu cầu đó. Đây cũng là những nội dung nghiên cứu cơ bản của đề tải.
Những nghiên cứu về nhu câu ở trong nước Hau hết các nhà tâm lý học Việt Nam đều chịu ảnh hưởng của tâm lý học Liên Xô. Vì thể, những nghiên cứu về nhu câu trong tâm lý cũng bat nguồn chủ yếu từ những luận điểm của tâm lý học Marxist. Ở Việt Nam, nói về nhu cầu có thể kể tới bộ sách Tam by học do tập thé các nhà Tâm lý học đầu ngành của Việt Nam biên soạn như Nguyễn Quang Uan, Tran Hữu Luyén, Tran Quốc Thành, Pham Minh Hạc, Đỗ Long, Tran Trọng Thuy, Phạm Hoang Gia, Hồ Ngọc Dai, Truong Anh Tuấn, Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Đặng Xuân Hoài, Lê Văn Hồng, Lê Khanh.Và nhiều công trình nghiên cứu về nhu cầu trên khách thé là học sinh, sinh viên của các tác giả như Nguyễn Thạc, Hoàng Thị Thu Hà, Hà Bình Hoà. Dù mỗi tác giả có cách lập luận khác nhau nhưng tất ca đều chung quan điểm: Nhu cau được hiểu là sự biéu hiện mối quan hệ tích cực của các cá nhân đối với hoàn cảnh, là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa man dé tồn tại và phát triển.
Các công trình này đã làm rõ thêm lý luận về nhu cầu, vai trò của nhu câu trong thực tiễn đời sóng tâm lý của con người. Tuy nhiên, các tác giả trên chủ yếu tập trung nghiên cứu lý thuyết vẻ nhu cau hoặc là nhu cau thành đạt, nhu cau học tập là chủ yếu. Chưa thay có dé tai nào nghiên cứu về nhu cau giải trí trên sinh viên. Những vấn đề liên quan đến giải trí và nhu cầu giải trí 1.
Những nghiên cứu ở nước ngoài Từ khoảng nửa xudi thé ky XIX, thời gian rỗi, giải trí và nhu cầu giải tri bat đầu được nhiều nhà khoa học trên thé giới quan tâm nghiên cứu, khi họ nhận thức được rằng “néu không có giải tri, con người sẽ chỉ biết lao động nhự những chiếc may, không cảm nhận được ÿ nghĩa của cuộc sóng, không biết hưởng thụ những thành qua lao động của chính minh và không thé phát triển một cách toàn diện ”.13] Karl Marx cho rang, trong tương lai khi lao động không còn cực nhọc, mà là lao động sáng tạo, mang lại niềm vui và trở thành một hình thức giải trí. Khi đó, thời gian rỗi càng tăng, chứng tỏ năng suất lao động cao, tạo điều kiện cho con người thoát khỏi sự nặng nhọc, vất va của lao động dé phát trién nhân cách một cách hai hòa và hoàn thiện. Marx cùng đã từng coi thời gian tự do là khoảng thời gian dành cho sự thỏa mãn, cho giải trí va mở ra một khoảng thời gian cho những hoạt động tự do và sự phát triển.25] Nhà xã hội học người Pháp Dumagedier coi giải trí như là sự biến đổi về chất của xã hội công nghiệp, từ chỗ bị bóc lột thô bạo bằng việc kéo dài thời gian lao động, người công nhân đã có quyền nghỉ ngơi và giải trí mà vẫn được hưởng lương. Ông tiên đoán về triển vọng của xã hội hậu công nghiệp sẽ là một “xã hội giải trf", trong đó thời gian lao động được rút ngắn tới mức tối thiểu, nhường phan áp đảo cho thời gian rỗi, mối quan tâm của xã hội không phải là làm gi dé sống ma là lam thế nao đẻ giải trí được tốt hơn.