Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế "Nghiên cứu các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam" được tác giả Nguyễn Phương Trang thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội, năm 2022), thuộc chuyên ngành Kinh tế quốc tế (mã số: 9310106), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Ngô Thị Tuyết Mai và PGS.TS. Lưu Bích Ngọc.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã thúc đẩy dòng dịch chuyển lao động xuyên biên giới. Theo số liệu của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), giai đoạn 2013-2017, số người di cư quốc tế tăng khoảng 11%, người di cư trong độ tuổi lao động tăng khoảng 13%, và số lao động di cư tăng khoảng 9% (ILO, 2017). Đến năm 2019, toàn cầu có khoảng 169 triệu lao động nhập cư, chiếm 69% dân số di cư trong độ tuổi lao động (ILO, 2021). Dưới tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), quá trình tái cấu trúc thị trường lao động đòi hỏi người lao động phải nâng cấp kỹ năng, dẫn tới sự cạnh tranh thu hút nhân lực kỹ năng cao giữa các quốc gia (Wogart & Schüller, 2011; Papademetriou & Sumption, 2013). Các cam kết mở cửa thông qua Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS - Phương thức 4 của WTO), Kế hoạch tổng thể Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) hướng tới dòng chảy tự do lao động kỹ năng vào năm 2025, cùng các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA đã tạo hành lang pháp lý cho sự dịch chuyển này.
Tại Việt Nam, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) gia tăng nhanh chóng đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang các ngành áp dụng công nghệ cao, làm gia tăng nhu cầu sử dụng lao động có kỹ năng. Tuy nhiên, chất lượng kỹ năng của lao động trong nước vẫn chưa đáp ứng kịp thời (ADB, 2020). Báo cáo của WEF & A.T. Kearney (2018) xếp chất lượng nguồn lao động có kỹ năng của Việt Nam ở vị trí 81/100, thuộc nhóm chưa sẵn sàng cho CMCN 4.0. Trung tâm Quốc gia về Dịch vụ việc làm (2021) dự báo tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo của Việt Nam đến năm 2030 vẫn chiếm trên 67%. Do đó, việc thu hút lao động nước ngoài có trình độ và kỹ năng là giải pháp trực tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng suất xã hội (Nguyễn Thị Thu Hương & Nguyễn Thị Bích Thúy, 2015).
Mặc dù cấp thiết, các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam về lao động nước ngoài chủ yếu dừng lại ở phân tích định tính về mặt luật pháp, quản lý nhà nước (Nguyễn Bình Giang, 2010; Viện KHLĐXH, 2014; Nguyễn Thị Hoài Hương, 2014; Nguyễn Bá Ngọc, 2016; Nguyễn Hồng Anh, 2017). Các phân tích thực nghiệm định lượng ở cấp độ vĩ mô nhằm lượng hóa các nhân tố thu hút nhóm lao động này gần như chưa được thực hiện do rào cản về dữ liệu thống kê. Luận án được triển khai nhằm lấp đầy khoảng trống nghiên cứu này.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Trên cơ sở hệ thống hóa và vận dụng cơ sở lý luận về lao động di cư quốc tế, luận án phân tích, đánh giá các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam giai đoạn 2016-2020; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu hút nguồn lao động này.
- Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận, xây dựng khung lý thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu về các nhân tố thu hút lao động có kỹ năng di cư quốc tế vào một quốc gia đang phát triển (hoặc có mức thu nhập trung bình thấp) như Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam giai đoạn 2016-2020.
- Phân tích và đánh giá thực nghiệm các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam giai đoạn 2016-2020.
- Đề xuất quan điểm và giải pháp tăng cường thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam trong thời gian tới.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Luận án xác định 5 câu hỏi nghiên cứu:
- Những nhân tố nào được xác định là nhân tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam?
- Thực trạng lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam trong giai đoạn 2016-2020 như thế nào?
- Đặc điểm các nhân tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam trong giai đoạn 2016-2020 là như thế nào?
- Vai trò của các nhân tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam?
- Giải pháp thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam trong thời gian tới như thế nào?
Hệ thống giả thuyết nghiên cứu được kiểm định bao gồm:
- H1a: Sự gia tăng số lượng vốn FDI vào Việt Nam và mức độ hội nhập quốc tế là yếu tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam.
- H1b: Sự gia tăng tỷ lệ thiếu hụt lao động qua đào tạo và nhóm lao động có kỹ năng là yếu tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam.
- H1c: Sự cải thiện chất lượng môi trường thể chế và các điều kiện thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng là yếu tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam.
- H1d: Số lượng vốn FDI vào Việt Nam và mức độ hội nhập quốc tế, chất lượng môi trường thể chế là những nhân tố có tác động mạnh trong dài hạn tới việc thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam.
- H1e: Các nhân tố phản ánh đặc trưng kinh tế, văn hóa và xã hội của địa phương là yếu tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam.
- H1f: Sự gia tăng thu nhập trung bình tại các địa phương là yếu tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam.
- H1g: Sự gia tăng tỷ lệ lao động trẻ tại các địa phương là yếu tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam.
- H1h: Sự gia tăng số lượng lao động kỹ thuật, lao động làm lãnh đạo tại các địa phương là yếu tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Lý luận và thực tiễn về các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào một quốc gia; nội hàm các nhân tố thu hút và thực tiễn vận hành tại Việt Nam.
- Khách thể nghiên cứu: Lao động nước ngoài có kỹ năng vào làm việc hợp pháp tại Việt Nam theo quy định pháp luật (thuộc 4 vị trí: nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia, lao động kỹ thuật theo Khoản 1 Điều 152 Bộ luật Lao động 2019 và Nghị định 152/2020/NĐ-CP); các nhà hoạch định chính sách và người sử dụng lao động.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các nhân tố hút ở cấp độ vĩ mô (vốn FDI và hội nhập quốc tế; thực trạng sử dụng và nhu cầu lao động có kỹ năng; chất lượng môi trường thể chế và các điều kiện thu hút). Luận án không đi sâu vào các nhân tố cấp vi mô và trung gian thuộc nội bộ doanh nghiệp như hiệu quả làm việc hay lợi ích tài chính riêng của đơn vị sử dụng lao động.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2016-2020. Dữ liệu phân loại theo 4 nhóm vị trí việc làm thu thập trong hai năm 2019-2020 do tính sẵn có của nguồn dữ liệu quản lý. Khảo sát thực địa sơ cấp được triển khai từ tháng 4/2022 đến cuối tháng 6/2022.
- Phạm vi không gian: Phân tích mô hình kinh tế lượng trên địa bàn 63 tỉnh/thành phố của Việt Nam. Khảo sát sơ cấp chọn mẫu tại 5 địa phương tập trung 69% lao động nước ngoài trên cả nước gồm: Hà Nội, Bắc Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu chính trong và ngoài nước
Tác giả đã phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu theo các nhóm hướng chính:
- Dòng dịch chuyển và tác động của di cư chất xám: Các nghiên cứu ban đầu tập trung phân tích xu hướng dịch chuyển và ảnh hưởng tiêu cực của hiện tượng "chảy máu chất xám" đối với các nước xuất cư (Beine & cs., 2001; Stark & cs., 1998; UNCTAD, 2012). Một số nghiên cứu xem xét sự di cư của lao động có kỹ năng dưới góc độ phân công lao động quốc tế (Koser & Salt, 1997) hoặc tính tự lựa chọn của người di cư (Borjas & cs., 1992; Hunt & Mueller, 2004; Gross & Schmitt, 2012; Docquier & Marfouk, 2006). Tiếp cận dưới góc độ kinh tế và quan hệ quốc tế có các nghiên cứu của Cerna (2011), Docquier, Lohest & Marfouk (2007), Ho (2011), Hart (2006a).
- Nhân tố đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và hội nhập quốc tế: Katja Zajc Kejžar (2019) nghiên cứu tại Slovenia (2002-2010) chỉ ra rằng dòng vốn FDI kết hợp với việc bổ nhiệm nhân sự quản lý và chuyên gia nước ngoài giúp doanh nghiệp đa quốc gia (MNEs) chuyển giao công nghệ hiệu quả hơn. Findlay & cs. (2000), Lindsay & Findlay (2010) nhấn mạnh vai trò trao đổi chất xám gắn liền với dòng lưu chuyển hàng hóa và tài chính toàn cầu. Ở nhóm nước đang phát triển, Hoxhaj, Marchal & Seric (2015) khai thác số liệu khảo sát tại 16 quốc gia khu vực châu Phi cận Sahara (SSA) năm 2010, chứng minh cường độ vốn của doanh nghiệp có tương quan dương rõ nét với việc sử dụng lao động kỹ năng di cư quốc tế.
- Nhu cầu sử dụng lao động có kỹ năng (đặc biệt là lĩnh vực STEM): Các công trình của Kent (2011), Salzman & cs. (2013), Malekoff (2013) tại Hoa Kỳ và Reymen & cs. (2015) tại Liên minh Châu Âu chỉ ra rằng tình trạng khan hiếm nhân lực kỹ thuật, công nghệ thông tin và khoa học tự nhiên là động lực trực tiếp hình thành các cơ chế visa chọn lọc như chính sách Thẻ Xanh của Đức (2005) hay Thẻ Xanh EU (2009).
- Môi trường thể chế và chính sách nhập cư chọn lọc: Dựa trên định nghĩa thể chế của Aoki (2001), North (1990), Ahn & Ostrom (2009) và Nelson (1994), luận án tiếp cận thể chế bao gồm cả hệ thống chính sách luật pháp và bộ máy tổ chức thực hiện. Các học giả Koslowski (2014), Papademetriou & Sumption (2013, 2015), Czaika & De Haas (2013), Czaika & Parsons (2015) phân biệt hai định hướng chính sách: chính sách hướng cung (dựa trên hệ thống thang điểm - Point-based System áp dụng tại Canada từ 1967, Úc từ 1989, New Zealand từ 1991) và chính sách hướng cầu (dựa trên sự bảo lãnh và vị trí việc làm của người sử dụng lao động như visa H-1B của Hoa Kỳ), cùng xu hướng kết hợp mô hình lai ghép (hybrid model).
- Đặc trưng nhân khẩu học và mối quan hệ với lao động trong nước: Furlong & cs. (2002), Glick & cs. (2015), Farrugia (2021) phân tích tác động của biến động lực lượng lao động trẻ (15-24 tuổi) đến sự thiếu hụt kỹ năng chuyên môn. Viseth (2020), Banerjee & Duflo (2011), Constant (2014) chỉ ra rằng lao động di cư có kỹ năng và lao động kỹ thuật/lãnh đạo bản địa có mối quan hệ bổ sung cho nhau trong dài hạn, không triệt tiêu việc làm của lao động nội địa.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết
- Khoảng trống về không gian thực nghiệm: Các nghiên cứu thực nghiệm lượng hóa lực hút lao động kỹ năng chủ yếu thực hiện tại các nền kinh tế phát triển (OECD, EU, Mỹ). Rất ít nghiên cứu định lượng phân tích vấn đề này tại một quốc gia đang phát triển và là nước xuất khẩu lao động ròng như Việt Nam.
- Khoảng trống về khung lý thuyết: Các mô hình lý thuyết truyền thống thường giả định cấu trúc thị trường của các nước phát triển. Luận án điều chỉnh và mở rộng mô hình di cư của Gross & Schmitt (2003) để phản ánh tính đặc thù của nền kinh tế chuyển đổi, có sự phân hóa theo 4 nhóm vị trí chuyên môn kỹ thuật.
- Khoảng trống về cấp độ phân tích: Chưa có công trình nào tại Việt Nam kết hợp đồng thời dữ liệu mảng cấp tỉnh (63 địa phương) với dữ liệu điều tra vi mô để làm rõ tác động đồng thời của vốn FDI, môi trường thể chế địa phương (chỉ số PCI) và các yếu tố nhân khẩu học.
- Khoảng trống về bối cảnh: Đặt vấn đề nghiên cứu trong bối cảnh thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và giai đoạn phục hồi kinh tế trước và sau tác động của đại dịch Covid-19.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án kế thừa và phát triển mô hình nhập cư quốc tế của Gross & Schmitt (2003). Trong khung lý thuyết mở rộng:
- Quyết định di cư của lao động có kỹ năng phụ thuộc vào sự chênh lệch phân phối thu nhập giữa nước xuất cư và nước nhập cư, gắn liền với các đặc trưng kinh tế, thể chế, văn hóa và xã hội.
- Sự khác biệt về lợi ích kinh tế không mang tính đồng nhất mà phân hóa rõ nét theo từng nhóm trình độ, kỹ năng và vị trí việc làm cụ thể (nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia, lao động kỹ thuật).
- Chi phí di cư bao gồm: chi phí di chuyển địa lý, chi phí rào cản hành chính/thể chế và các chi phí thích ứng văn hóa, ngôn ngữ tại nước sở tại.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng (mixed-methods) theo quy trình 5 bước: (1) Tổng quan tài liệu, cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế; (2) Thiết kế khung phân tích và mô hình; (3) Thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp; (4) Xử lý và phân tích dữ liệu; (5) Đề xuất giải pháp.
Phương pháp định tính
- Thu thập dữ liệu thứ cấp từ các văn bản chính sách, báo cáo tổng kết giai đoạn 2016-2020 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (Bộ LĐTBXH), Cục Việc làm, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Viện Khoa học Lao động và Xã hội, cùng Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê (GSO).
- Thu thập dữ liệu sơ cấp qua phỏng vấn sâu:
- Cấp Trung ương: 03 cuộc phỏng vấn sâu đại diện lãnh đạo các đơn vị quản lý thuộc Bộ LĐTBXH (Cục Việc làm, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Viện Khoa học Lao động và Xã hội).
- Cấp địa phương: Phỏng vấn đại diện lãnh đạo Thanh tra Sở LĐTBXH, cán bộ Phòng LĐTBXH cấp huyện và cán bộ Ban Quản lý Khu công nghiệp (BQL KCN) tại 5 tỉnh/thành phố: Hà Nội, Bắc Ninh, TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai.
- Xử lý thông tin định tính: Gỡ băng ghi âm, mã hóa theo chủ đề (đặc điểm nhân tố hút, nhu cầu sử dụng lao động, chất lượng thể chế và rào cản quản lý) để đối chiếu, lý giải cho các phát hiện từ mô hình định lượng.
Phương pháp định lượng
-
Khảo sát sơ cấp:
Sử dụng bảng hỏi cấu trúc gồm 30 câu hỏi bằng tiếng Anh, phân thành 3 khối nội dung: thông tin nhân khẩu học; hiện trạng công việc và thu nhập; đánh giá các nhân tố hút theo thang đo Likert 5 mức độ (từ 1 = Hoàn toàn không đồng ý đến 5 = Hoàn toàn đồng ý) cùng các thang đo tài chính, mức sống.
Cỡ mẫu được tính toán theo công thức chọn mẫu thuận tiện không xác định tổng thể:
$$N = \frac{Z^2_{(1-\alpha/2)} \cdot p(1-p)}{d^2} = \frac{1{,}96^2 \times 0{,}5 \times 0{,}5}{0{,}1^2} = 96$$
Thực tế triển khai phát ra 350 phiếu khảo sát thông qua Sở LĐTBXH và BQL KCN tại 5 địa phương trọng điểm; thu về 308 phiếu hợp lệ (đạt trên 3 lần quy mô mẫu tối thiểu). Dữ liệu được mã hóa và xử lý thống kê mô tả đơn biến trên phần mềm SPSS.
-
Phân tích thực nghiệm kinh tế lượng (dữ liệu thứ cấp):
Sử dụng bộ dữ liệu mảng (panel data) của 63 tỉnh/thành phố giai đoạn 2016-2020 trên phần mềm STATA 16. Luận án áp dụng mô hình hồi quy tác động cố định (FE) và tác động ngẫu nhiên (RE). Nhằm giải quyết hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan trong dữ liệu mảng, tác giả áp dụng ước lượng sai số chuẩn đã hiệu chỉnh cho dữ liệu mảng (PCSE) theo Beck & Katz (1995), Canh & cs. (2021) và phương pháp Bình phương nhỏ nhất tổng quát khả thi (FGLS) theo Gala & cs. (2018), Sweet & Eterovic (2019). Để kiểm định tác động ngắn hạn và dài hạn, mô hình ARDL dạng hiệu ứng cố định động (DFE) của Pesaran & Smith (1995), Pesaran & cs. (1999) được đưa vào kiểm định.
Bảng tổng hợp các biến trong nghiên cứu
| Nhóm biến |
Tên biến |
Chỉ báo và đo lường |
Nguồn dữ liệu |
| Biến phụ thuộc |
Lao động nước ngoài có kỹ năng |
Tổng số lao động nước ngoài được cấp phép tại địa phương (2016-2020) |
Bộ LĐTBXH |
|
Vị trí Quản lý |
Số lượng lao động nước ngoài giữ vị trí quản lý theo tỉnh |
Bộ LĐTBXH |
|
Vị trí Giám đốc điều hành |
Số lượng lao động nước ngoài giữ vị trí giám đốc điều hành theo tỉnh |
Bộ LĐTBXH |
|
Vị trí Chuyên gia |
Số lượng lao động nước ngoài giữ vị trí chuyên gia theo tỉnh |
Bộ LĐTBXH |
|
Vị trí Lao động kỹ thuật |
Số lượng lao động nước ngoài làm công việc kỹ thuật theo tỉnh |
Bộ LĐTBXH |
| Biến độc lập |
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) |
Lượng vốn FDI đăng ký cấp phép lũy kế tại địa phương |
Tổng cục Thống kê (GSO) |
|
Tỷ lệ thất nghiệp |
Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi theo tỉnh |
GSO |
|
Môi trường thể chế (PCI) |
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (thang điểm 100, 10 chỉ số thành phần) |
VCCI / Website PCI |
|
Thu nhập bình quân |
Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá hiện hành |
GSO |
|
Lao động trẻ |
Số lượng người trong độ tuổi 15-24 thuộc lực lượng lao động |
GSO |
|
Lao động làm việc chuyên môn |
Tổng số lao động giữ vị trí quản lý và lao động kỹ thuật trong nước |
GSO |
|
Đô thị hóa và dân số |
Tỷ lệ dân số thành thị, tổng dân số và mật độ dân số cấp tỉnh |
GSO |
| Biến cấp vi mô & trung gian (Khảo sát sơ cấp) |
Mạng lưới xã hội |
Kênh tiếp cận việc làm: bạn bè, internet, luân chuyển nội bộ MNEs |
Phiếu điều tra 308 mẫu |
|
Thu nhập và mức sống |
Mức lương USD, số nguồn thu, chênh lệch chi phí sinh hoạt |
Phiếu điều tra 308 mẫu |
|
Rào cản ngôn ngữ |
Đánh giá mức độ phổ biến của tiếng Anh tại nơi làm việc |
Phiếu điều tra 308 mẫu |
|
Trách nhiệm gia đình |
Tình trạng hôn nhân, quy mô gia đình, số người phụ thuộc |
Phiếu điều tra 308 mẫu |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu các nhân tố thu hút lao động có kỹ năng di cư quốc tế vào một quốc gia
Chương này điểm luận hệ thống các công trình nghiên cứu trên phạm vi toàn cầu và tại Việt Nam. Tác giả phân tích các nhân tố hút ở cấp độ vĩ mô, bao gồm: môi trường thể chế chính sách ưu đãi; điều kiện chi phí di chuyển và mạng lưới xã hội; cơ cấu lực lượng lao động trẻ (15-24 tuổi) phản ánh sự thiếu hụt kỹ năng; và tính bổ sung giữa lao động kỹ thuật, lãnh đạo trong nước với chuyên gia quốc tế (Viseth, 2020; Constant, 2014). Tác giả so sánh hai trường phái chính sách nhập cư chọn lọc: hướng cung (hệ thống tính điểm tại Canada, Úc, New Zealand) và hướng cầu (bảo lãnh theo vị trí tuyển dụng của chủ sử dụng tại Mỹ), cùng sự chuyển dịch sang mô hình lai ghép (Papademetriou & Sumption, 2015). Chương 1 xác lập 4 khoảng trống nghiên cứu chính, làm tiền đề lý luận cho việc xây dựng câu hỏi và khung phân tích của luận án.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về các nhân tố thu hút lao động có kỹ năng di cư quốc tế vào một quốc gia
Chương 2 làm rõ các khái niệm căn bản: lao động di cư quốc tế, lao động có kỹ năng (theo tiêu chuẩn ISCO của ILO), và lao động nước ngoài có kỹ năng. Tác giả tổng hợp các lý thuyết di cư ở ba cấp độ:
- Cấp độ vĩ mô: Kinh tế học tân cổ điển (chênh lệch tiền lương và việc làm), Lý thuyết thị trường lao động phân khúc (nhu cầu cấu trúc đối với nguồn lao động bổ sung), Lý thuyết hệ thống thế giới.
- Cấp độ trung gian (meso): Lý thuyết mạng lưới xã hội, Lý thuyết thể chế di cư.
- Cấp độ vi mô: Lý thuyết kinh tế học mới về di cư lao động (NELM - quyết định chia sẻ rủi ro cấp hộ gia đình), Lý thuyết vốn con người (tối đa hóa lợi ích trọn đời).
Chương này phân tích kinh nghiệm thu hút lao động kỹ năng cao tại ba quốc gia châu Á:
- Singapore: Sử dụng hệ thống thẻ việc làm (Employment Pass, S Pass) phân tầng chặt chẽ dựa trên mức lương tối thiểu hàng tháng và tiêu chuẩn kỹ năng.
- Nhật Bản: Chính sách tích điểm ưu đãi cho chuyên gia kỹ thuật cao nước ngoài (Highly Skilled Foreign Professional - HSFP).
- Trung Quốc: Các chương trình quốc gia thu hút nhân tài (như "Kế hoạch ngàn nhân tài") gắn với chính sách ưu đãi tài chính và visa chuyên gia.
Từ đó, tác giả rút ra bài học cho Việt Nam về việc gắn kết chính sách thị thực với chiến lược FDI và danh mục các ngành thiếu hụt kỹ năng kỹ thuật thực tế.
Chương 3: Thực trạng lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam và đặc điểm các nhân tố thu hút ở cấp độ vĩ mô
Chương 3 sử dụng số liệu hành chính và thống kê thứ cấp giai đoạn 2016-2020 để phân tích:
- Diễn biến cấp phép lao động: Số lượng lao động nước ngoài được cấp giấy phép lao động (GPLĐ) tăng đều qua các năm nhưng có sự suy giảm cục bộ trong năm 2020 do các biện pháp kiểm soát biên giới phòng chống đại dịch Covid-19. Sự phân bổ diễn ra không đồng đều, tập trung cao độ tại 5 địa phương phát triển công nghiệp và dịch vụ lớn (chiếm 69% tổng số lao động nước ngoài cả nước): TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương, Đồng Nai, Bắc Ninh.
- Cơ cấu theo vị trí việc làm: Phân tích dữ liệu theo 4 nhóm vị trí việc làm theo quy định tại Điều 152 Bộ luật Lao động 2019 trong giai đoạn 2019-2020 cho thấy tỷ trọng lao động kỹ thuật và chuyên gia chiếm đa số, tiếp đến là nhà quản lý và giám đốc điều hành tại các doanh nghiệp FDI.
- Phân tích 3 nhóm nhân tố hút vĩ mô:
- FDI và hội nhập: Tỷ trọng vốn FDI giải ngân và đăng ký liên tục tăng; việc ký kết các FTA (CPTPP, EVFTA) tạo điều kiện luân chuyển nội bộ doanh nghiệp.
- Thực trạng sử dụng và thiếu hụt kỹ năng: Tỷ lệ lao động qua đào tạo của Việt Nam thấp, đặc biệt khan hiếm các vị trí kỹ thuật phức tạp, công nghệ thông tin và quản trị dự án công nghiệp.
- Môi trường thể chế và quản lý: Phân tích quy trình cấp GPLĐ, thủ tục miễn GPLĐ, cơ cấu tổ chức quản lý lao động nước ngoài giữa Trung ương (Bộ LĐTBXH) và địa phương (Sở LĐTBXH, BQL KCN). Chỉ ra sự phức tạp trong thủ tục chứng minh kinh nghiệm làm việc và sự khác biệt trong thực thi giữa các địa phương theo điểm số PCI.
Chương 4: Phân tích thực nghiệm các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam
Chương 4 là trọng tâm định lượng của luận án, tích hợp kết quả từ hai nguồn dữ liệu:
- Kết quả ước lượng mô hình kinh tế lượng cấp vĩ mô (63 tỉnh/thành):
- Dòng vốn FDI có tác động dương có ý nghĩa thống kê tới số lượng lao động nước ngoài có kỹ năng, khẳng định dòng di chuyển nhân sự đi kèm vốn đầu tư.
- Chất lượng môi trường thể chế cấp tỉnh (đo lường qua PCI) tác động tích cực đến mức độ thu hút lao động nước ngoài; địa phương có tính minh bạch cao, chi phí không chính thức thấp và thủ tục hành chính thông thoáng thu hút nhiều lao động chuyên gia hơn.
- Tỷ lệ thiếu hụt lao động qua đào tạo tại địa phương tạo ra lực hút mạnh đối với lao động kỹ thuật nước ngoài nhằm bù đắp khoảng trống kỹ năng bản địa.
- Kết quả từ mô hình ARDL/DFE xác nhận tác động của FDI và cải thiện thể chế có độ trễ và tác động tích cực trong dài hạn.
- Khi bóc tách theo 4 nhóm vị trí, các yếu tố thể chế tác động mạnh nhất đến nhóm nhà quản lý và chuyên gia; trong khi nhóm lao động kỹ thuật chịu sự chi phối chủ yếu bởi quy mô vốn dự án FDI và nhu cầu sản xuất trực tiếp.
- Kết quả khảo sát sơ cấp (308 lao động nước ngoài):
- Về nguồn tiếp cận việc làm: Đa số lao động vào Việt Nam thông qua hình thức điều động, luân chuyển công tác nội bộ của các tập đoàn đa quốc gia và qua mạng lưới đồng nghiệp, chuyên gia; tỷ lệ thông qua các trung tâm dịch vụ việc làm công lập rất thấp.
- Về động lực di cư: Mức chi phí sinh hoạt tương đối rẻ tại Việt Nam so với thu nhập, cơ hội phát triển nghề nghiệp/thăng tiến và sự an toàn về chính trị - xã hội là những yếu tố được đánh giá cao nhất.
- Về tài chính: Phần lớn người được khảo sát thể hiện sự hài lòng với thu nhập hiện tại và khẳng định có khả năng chi trả các khoản chi phí đột xuất gấp hai lần thu nhập hàng tháng. Rào cản lớn nhất nằm ở sự bất đồng ngôn ngữ và thủ tục xin cấp/gia hạn giấy phép lao động.
Chương 5: Quan điểm và giải pháp thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam
Chương 5 hệ thống hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, hội nhập quốc tế gắn với thu hút đầu tư nước ngoài. Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp cụ thể:
- Hoàn thiện khung khổ thể chế và chính sách nhập cư: Sửa đổi, tinh giản quy trình cấp GPLĐ theo hướng trực tuyến hóa; nới lỏng các yêu cầu cứng nhắc về hợp pháp hóa lãnh sự hồ sơ chứng minh kinh nghiệm đối với các vị trí chuyên gia kỹ thuật đặc thù; nghiên cứu cơ chế visa làm việc dài hạn cho các chuyên gia công nghệ cao.
- Gắn kết chính sách thu hút lao động kỹ năng với quy hoạch dòng vốn FDI: Ưu tiên cấp phép lao động nước ngoài trong các dự án công nghệ cao, công nghiệp phụ trợ, chuyển đổi số; ban hành danh mục nghề nghiệp thiếu hụt kỹ năng quốc gia để làm căn cứ phê duyệt nhu cầu tuyển dụng.
- Thúc đẩy cơ chế chuyển giao kỹ năng và đào tạo tại chỗ: Ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp FDI trong việc xây dựng lộ trình kèm cặp, chuyển giao tri thức giữa chuyên gia nước ngoài và lao động kỹ thuật Việt Nam.
- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu và quản lý lao động nước ngoài thống nhất: Tích hợp dữ liệu quản lý giữa Bộ LĐTBXH, Bộ Công an (quản lý xuất nhập cảnh) và cơ quan quản lý thuế, bảo hiểm xã hội; tăng cường liên kết vùng giữa các địa phương công nghiệp trọng điểm nhằm tối ưu hóa việc phân bổ nhân lực quốc tế.
- Thích ứng với bối cảnh hậu Covid-19: Đảm bảo tính linh hoạt của thị trường lao động, mở rộng cơ chế pháp lý điều chỉnh các hình thức làm việc từ xa và di chuyển lao động xuyên biên giới ngắt quãng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án đã mở rộng mô hình kinh tế về di cư quốc tế của Gross & Schmitt (2003) vào bối cảnh cụ thể của một quốc gia đang phát triển và là nước xuất cư ròng. Khung phân tích làm rõ cơ chế phân phối thu nhập và chi phí di cư của lao động có kỹ năng theo 4 nhóm vị trí việc làm xác định theo luật định (quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia, lao động kỹ thuật), điều chỉnh cho phù hợp với thể chế thị trường của Việt Nam.
- Hệ thống hóa toàn diện các nhân tố lực hút di cư ở cấp độ vĩ mô, chứng minh mối quan hệ tác động đồng thời giữa dòng vốn đầu tư quốc tế (FDI), tình trạng thiếu hụt kỹ năng bản địa và chất lượng môi trường thể chế cấp địa phương đối với việc phân bổ lao động kỹ năng cao xuyên biên giới.
Đóng góp về mặt thực nghiệm
- Cung cấp bằng chứng định lượng thực nghiệm đầu tiên ở cấp độ vĩ mô tại 63 tỉnh/thành phố của Việt Nam giai đoạn 2016-2020 bằng các kỹ thuật xử lý dữ liệu mảng hiện đại (PCSE, FGLS, ARDL/DFE). Kết quả khẳng định dòng vốn FDI và chất lượng thể chế cấp tỉnh (PCI) có tác động tích cực trong dài hạn tới việc thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng.
- Bóc tách và chứng minh sự khác biệt về mức độ tác động của các nhân tố hút đối với từng nhóm vị trí công việc: môi trường thể chế có ảnh hưởng chi phối đối với nhà quản lý và chuyên gia, trong khi dòng vốn đầu tư chi phối nhóm lao động kỹ thuật trực tiếp.
- Bổ sung nguồn dữ liệu vi mô thông qua khảo sát 308 lao động nước ngoài tại 5 địa bàn công nghiệp trọng điểm (chiếm 69% thị phần lao động nước ngoài cả nước), làm sáng tỏ động lực di cư gắn liền với sự cân bằng giữa thu nhập và chi phí sinh hoạt tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về phương pháp chọn mẫu khảo sát: Việc khảo sát sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện (308 phiếu) và phải thông qua đầu mối Sở LĐTBXH, BQL KCN nên số lượng câu hỏi phải tinh giản, chưa bao quát được toàn diện tất cả các ngành nghề kinh tế; các phát hiện từ khảo sát sơ cấp mới dừng lại ở mức nghiên cứu điển hình.
- Hạn chế về dữ liệu chuỗi thời gian: Do độ trễ và khó khăn trong tiếp cận hệ thống thống kê chuyên ngành, dữ liệu mảng dừng lại ở năm 2020. Dữ liệu phân tách chi tiết theo 4 nhóm vị trí việc làm mới chỉ thu thập được trong hai năm 2019-2020, làm giới hạn khả năng phân tích chuỗi thời gian dài hạn.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Khi hệ thống dữ liệu quốc gia được hoàn thiện, các nghiên cứu tương lai cần mở rộng giai đoạn nghiên cứu sang các năm phục hồi kinh tế hậu Covid-19 (2021-2025), tăng quy mô mẫu khảo sát đại diện theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng, và đánh giá sâu hơn tác động chuyển giao tri thức nội bộ giữa chuyên gia nước ngoài và lao động trong nước ở cấp độ doanh nghiệp.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Các cơ quan hoạch định chính sách tại Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (Cục Việc làm), Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cùng chính quyền các địa phương (Sở LĐTBXH, Ban Quản lý các Khu công nghiệp) có thể tham khảo luận án để xây dựng Danh mục ngành nghề thiếu hụt kỹ năng, thiết kế tiêu chí xét duyệt visa làm việc và cải thiện quy trình thủ tục hành chính cấp phép lao động.
- Đối với doanh nghiệp: Các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp đa quốc gia hoạt động tại Việt Nam có thể tham khảo các phát hiện về kênh tuyển dụng, chế độ đãi ngộ và mức độ hài lòng về tài chính để xây dựng chiến lược thu hút, luân chuyển chuyên gia quốc tế phù hợp.
- Đối với giới học thuật: Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Quản lý kinh tế, Quản trị nhân lực có thể tham khảo mô hình phân tích mở rộng từ Gross & Schmitt (2003), quy trình kết hợp các phương pháp hồi quy dữ liệu mảng (PCSE, FGLS, ARDL) và hệ thống thang đo đánh giá lao động di cư quốc tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân loại lao động nước ngoài có kỹ năng thành các nhóm vị trí nào?
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 152 Bộ luật Lao động 2019 và Nghị định 152/2020/NĐ-CP, luận án phân loại lao động nước ngoài có kỹ năng thành 4 nhóm vị trí việc làm: (1) Nhà quản lý; (2) Giám đốc điều hành; (3) Chuyên gia; (4) Lao động kỹ thuật.
2. Dữ liệu thực nghiệm của mô hình vĩ mô được thu thập từ nguồn nào và trong giai đoạn nào?
Dữ liệu được thu thập trên phạm vi 63 tỉnh/thành phố của Việt Nam giai đoạn 2016-2020 từ các nguồn chính thức: số liệu cấp phép lao động của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; số liệu về vốn FDI, tỷ lệ thất nghiệp, nhân khẩu học từ Tổng cục Thống kê (GSO); và Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) từ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).
3. Kỹ thuật định lượng nào được sử dụng để kiểm soát các khuyết tật của dữ liệu mảng?
Luận án sử dụng phần mềm STATA 16 để chạy các mô hình hồi quy tác động cố định (FE) và ngẫu nhiên (RE). Để kiểm soát hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan, tác giả sử dụng phương pháp sai số chuẩn hiệu chỉnh (PCSE) theo Beck & Katz (1995) và phương pháp Bình phương nhỏ nhất tổng quát khả thi (FGLS). Tác động dài hạn được kiểm định qua mô hình ARDL với ước lượng DFE.
4. Mẫu khảo sát sơ cấp được thực hiện với quy mô bao nhiêu và tại những địa phương nào?
Khảo sát sơ cấp bằng bảng hỏi cấu trúc tiếng Anh thu về 308 phiếu hợp lệ từ người lao động nước ngoài (vượt quy mô mẫu tối thiểu là 96 phiếu theo công thức tính mẫu thuận tiện). Khảo sát được thực hiện tại 5 tỉnh/thành phố tập trung 69% lượng lao động nước ngoài tại Việt Nam: Hà Nội, Bắc Ninh, TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai.
5. Kết quả phân tích thực nghiệm chỉ ra nhân tố nào có tác động quan trọng nhất đến nhóm lao động quản lý và chuyên gia?
Kết quả ước lượng mô hình cho thấy chất lượng môi trường thể chế cấp tỉnh (thể hiện qua chỉ số PCI với tính minh bạch, thủ tục hành chính thuận tiện và chi phí không chính thức thấp) có tác động tích cực và chi phối mạnh mẽ nhất đối với quyết định làm việc của nhóm nhà quản lý và chuyên gia nước ngoài, trong khi nhóm lao động kỹ thuật chịu tác động lớn hơn từ quy mô vốn FDI của dự án.
Kết luận
Luận án của tác giả Nguyễn Phương Trang đã hệ thống hóa lý luận về di cư quốc tế và lượng hóa thành công các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam giai đoạn 2016-2020. Bằng việc kết hợp dữ liệu mảng của 63 tỉnh/thành phố và khảo sát thực địa 308 chuyên gia quốc tế, nghiên cứu đã chứng minh vai trò tích cực của dòng vốn FDI, sự thiếu hụt kỹ năng trong nước và môi trường thể chế địa phương đối với việc phân bổ nhân lực kỹ thuật cao. Các giải pháp đề xuất về cải cách quy trình cấp phép, gắn kết thu hút FDI với chuyển giao tri thức và ban hành danh mục nghề nghiệp thiếu hụt cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp cho công tác quản lý lao động quốc tế tại Việt Nam.