Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Thị Hoài Chi (chuyên ngành Kinh doanh Thương mại, Khoa Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế – Đại học Huế) được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Đăng Hào vào tháng 4 năm 2020. Đề tài tập trung giải quyết bài toán cạnh tranh và hành vi người tiêu dùng trong phân khúc thiết bị giải trí truyền hình thông minh tại địa phương.
Về bối cảnh thực tiễn, thị trường dịch vụ truyền hình tại Việt Nam và tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2016–2020 chứng kiến sự chuyển dịch hành vi giải trí rõ nét. Theo các khảo sát thị trường được trích dẫn, người tiêu dùng ngày càng dành nhiều thời gian cho nội dung video trực tuyến qua mạng Internet (trung bình 134 phút lướt web trên máy tính và 103 phút trên điện thoại di động mỗi ngày, trong khi truyền hình truyền thống chỉ chiếm 91 phút). Thị trường cạnh tranh khốc liệt giữa các đơn vị cung cấp lớn như FPT Telecom (với FPT Play, FPT Play Box), Viettel (Next TV), VNPT (MyTV) và VTVcab. Dù FPT Telecom thâm nhập thị trường Thừa Thiên Huế từ cuối năm 2009 và liên tục cải tiến thiết bị đầu thu FPT Play Box, đơn vị này vẫn đối mặt với áp lực gia tăng thị phần và duy trì tốc độ tiêu thụ. Do đó, việc nghiên cứu các nhân tố thúc đẩy người tiêu dùng đưa ra quyết định mua thiết bị FPT Play Box có ý nghĩa thực tiễn quan trọng đối với chi nhánh.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được phân định rõ ràng:
- Mục tiêu tổng quát: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm dịch vụ truyền hình FPT Play Box của khách hàng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao khả năng thu hút khách hàng và tăng doanh thu tại Công ty Cổ phần Viễn thông FPT Chi nhánh Huế.
- Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hành vi khách hàng và các yếu tố chi phối quá trình ra quyết định mua.
- Phân tích, đánh giá tình hình kinh doanh, nguồn lực và kết quả tiêu thụ sản phẩm của chi nhánh qua giai đoạn 2017–2019.
- Nhận diện và đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến quyết định mua sản phẩm FPT Play Box của khách hàng tại thị trường Thừa Thiên Huế.
- Đề xuất các giải pháp khả thi giúp doanh nghiệp hoàn thiện quy trình xúc tiến và thúc đẩy hành vi lựa chọn sản phẩm của khách hàng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm dịch vụ truyền hình FPT Play Box của khách hàng tại Công ty Cổ phần Viễn thông FPT Chi nhánh Huế.
- Đối tượng điều tra: Khách hàng cá nhân đã sử dụng hoặc có động cơ tìm hiểu, mua sản phẩm FPT Play Box của công ty.
- Phạm vi không gian: Khách hàng có vai trò ra quyết định mua trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành trong thời gian thực tập từ ngày 01/01/2020 đến 15/03/2020. Dữ liệu thứ cấp phản ánh hoạt động của công ty giai đoạn 2017–2019; dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn bảng hỏi trong tháng 02 và tháng 03 năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý luận quản trị marketing và hành vi người tiêu dùng, kế thừa các công trình lý thuyết kinh điển:
- Khái niệm và bản chất hành vi người tiêu dùng theo GS.TS Trần Minh Đạo (2006), Benner (1988), Hair và cộng sự (2000), Nguyễn Thị Diệu Linh và Xuân Mai (2010).
- Mô hình các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng của Philip Kotler (2010), bao gồm 4 nhóm: Nhân tố văn hóa (nền văn hóa, nhánh văn hóa, giai tầng xã hội); Nhân tố xã hội (nhóm tham khảo, gia đình, vai trò và địa vị xã hội); Nhân tố cá nhân (tuổi tác và giai đoạn chu kỳ sống, nghề nghiệp, tình trạng kinh tế, lối sống, nhân cách và ý niệm bản thân); Nhân tố tâm lý (động cơ, nhận thức, sự hiểu biết, niềm tin và thái độ).
- Mô hình 5 giai đoạn ra quyết định mua của người tiêu dùng theo Philip Kotler (2010): Nhận thức nhu cầu $\rightarrow$ Tìm kiếm thông tin $\rightarrow$ Đánh giá các phương án $\rightarrow$ Quyết định mua sản phẩm $\rightarrow$ Đánh giá sau khi mua.
- Các mô hình thực nghiệm liên quan: Nghiên cứu của Đào Hoài Nam (2014) về quyết định mua điện thoại Samsung (7 nhân tố); Lê Cát Vi (2013) về dịch vụ MyTV tại Huế (9 nhân tố); Phan Tiến Hoàng (2015) về dịch vụ truyền hình VNPT tại Quảng Bình (4 nhân tố); Trần Thị Thu Hường (2017) về sản phẩm surimi (6 nhân tố); cùng các thang đo kế thừa từ Lê Thị Thảo Vân (2016) và Nguyễn Thị Bảo Châu (2019).
Mô hình nghiên cứu đề xuất bao gồm 6 nhóm nhân tố độc lập tác động đến 1 biến phụ thuộc, được cụ thể hóa bằng thang đo Likert 5 mức độ qua 22 biến quan sát:
| Thành phần |
Mã hóa biến |
Nội dung biến quan sát |
Nguồn kế thừa |
| Nhân viên bán hàng (NV) |
NV1 NV2 |
Nhiệt tình tư vấn sản phẩm cho khách hàng Hỗ trợ kịp thời khi khách hàng gặp sự cố |
Tác giả đề xuất |
| Chất lượng dịch vụ (CL) |
CL1 CL2 CL3 CL4 |
Đảm bảo chất lượng âm thanh, hình ảnh Đường truyền ổn định, đảm bảo tốc độ truy cập Đảm bảo số kênh truyền hình như đã đăng ký Nhiều tính năng, nội dung đa dạng, đáp ứng nhu cầu |
Lê Thị Thảo Vân (2016) |
| Giá cước (GC) |
GC1 GC2 GC3 |
Giá cước hiện tại tương xứng chất lượng sản phẩm Chi phí sử dụng gói sản phẩm hiện nay là phù hợp Cước phí sử dụng các dịch vụ theo yêu cầu là thỏa đáng |
Nguyễn Thị Bảo Châu (2019) |
| Sự tin cậy (TC) |
TC1 TC2 TC3 |
FPT cung cấp chất lượng sản phẩm đúng cam kết Khả năng sử dụng FPT Play Box ở mọi nơi Cảm giác an toàn khi sử dụng thiết bị FPT Play Box |
Tác giả đề xuất, Nguyễn Thị Bảo Châu (2019) |
| Dịch vụ khách hàng (KH) |
KH1 KH2 KH3 KH4 |
Thủ tục hòa mạng, lắp đặt nhanh chóng Thời gian khắc phục sự cố nhanh chóng, kịp thời Đội ngũ nhân viên nhiệt tình, trách nhiệm cao Tổng đài chăm sóc khách hàng hỗ trợ nhanh chóng |
Tác giả đề xuất |
| Nhóm tham khảo (TK) |
TK1 TK2 |
Bạn bè, đồng nghiệp, người thân tác động đến quyết định Nhân viên tư vấn của công ty tác động đến quyết định |
Lê Thị Thảo Vân (2016) |
| Quyết định lựa chọn (LC) |
LC1 LC2 LC3 LC4 |
Quyết định chọn mua FPT Play Box là đúng đắn Tiếp tục sử dụng sản phẩm dịch vụ nếu có nhu cầu Giới thiệu sản phẩm FPT Play Box cho người thân, bạn bè Tiếp tục lựa chọn dịch vụ của FPT vì các lợi ích mang lại |
Tác giả đề xuất, Nguyễn Thị Bảo Châu (2019) |
Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng:
- Nghiên cứu định tính: Phân tích tài liệu thứ cấp kết hợp phỏng vấn sâu 10 khách hàng đang sử dụng FPT Play Box nhằm khám phá, điều chỉnh câu chữ và hoàn thiện danh mục biến quan sát.
- Phương pháp chọn mẫu định lượng: Kích thước mẫu được xác định theo công thức ước lượng tỷ lệ của Cochran (1977) với mức tin cậy 95% ($z = 1{,}96$), sai số cho phép $e = 0{,}08$, giả định $p = q = 0{,}5$, cho ra cỡ mẫu tối thiểu là $n = 150{,}06$. Đồng thời, theo tiêu chuẩn phân tích nhân tố khám phá EFA (tối thiểu 5 quan sát cho 1 biến đo lường), với 23 biến quan sát trong thiết kế bảng hỏi dự kiến, cỡ mẫu cần đạt ít nhất $23 \times 5 = 115$. Nhằm loại trừ rủi ro phiếu lỗi, tác giả phát ra 170 bảng hỏi bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện (phỏng vấn trực tiếp tại 4 phòng giao dịch và phát tại hộ gia đình) trong tháng 02/2020.
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Phần mềm SPSS 20.0 được áp dụng để thực hiện:
- Thống kê mô tả đặc điểm nhân khẩu học và hành vi sử dụng.
- Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha (ngưỡng chấp nhận $\ge 0{,}6$).
- Phân tích nhân tố khám phá EFA (kiểm định KMO từ 0,5 đến 1,0; Bartlett’s Test có Sig. $\le 0{,}05$; tổng phương sai trích $\ge 50%$; hệ số Eigenvalues $\ge 1$; phép xoay Varimax).
- Phân tích tương quan Pearson và hồi quy đa biến: $Y = \beta_0 + \beta_1 F_1 + \dots + \beta_i F_i$.
- Đánh giá độ phù hợp của mô hình qua hệ số $R^2$, $R^2$ hiệu chỉnh, kiểm định ANOVA, kiểm định tự tương quan (Durbin-Watson) và kiểm định đa cộng tuyến (hệ số phóng đại phương sai VIF $< 10$).
- Kiểm định phi tham số và phân tích phương sai: Independent Samples T-test và One-way ANOVA để kiểm tra sự khác biệt quyết định mua theo giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, thu nhập.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về người tiêu dùng, hành vi người tiêu dùng, các yếu tố tác động và tiến trình năm bước ra quyết định mua sắm theo quan điểm của Philip Kotler và các học giả liên quan. Từ việc so sánh các mô hình nghiên cứu thực nghiệm trong ngành viễn thông và điện máy, tác giả đã lập luận loại bỏ yếu tố "Động cơ tiêu dùng" (do sản phẩm mang tính chất giải trí bổ sung) và yếu tố "Nơi mua hàng" (do đặc thù nhân viên FPT tiếp thị tại nhà hoặc khách đặt hàng qua điện thoại), hình thành mô hình nghiên cứu gồm 6 nhóm nhân tố độc lập (Nhân viên bán hàng, Chất lượng dịch vụ, Giá cước, Sự tin cậy, Dịch vụ khách hàng, Nhóm tham khảo) tác động lên biến Quyết định lựa chọn sản phẩm.
Về cơ sở thực tiễn, chương 1 phản ánh bức tranh toàn cảnh ngành truyền hình trả tiền tại Việt Nam: đến hết năm 2016, cả nước có 12,5 triệu thuê bao truyền hình, song số lượng doanh nghiệp được cấp phép hoạt động giảm từ 30 đơn vị xuống còn 15 đơn vị do áp lực chi phí hạ tầng, bản quyền và cuộc đua giảm giá cước. Tại thị trường Thừa Thiên Huế, sự bùng nổ của mạng Internet cáp quang và truyền hình giao thức OTT tạo ra cuộc cạnh tranh trực diện giữa FPT Play Box và các thiết bị Android TV Box, dịch vụ truyền hình cáp của VNPT, Viettel và VTVcab.
Chương 2: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm dịch vụ truyền hình FPT Play Box của khách hàng tại Công ty Cổ phần viễn thông FPT Chi nhánh Huế
Chương này tập trung làm rõ thực trạng doanh nghiệp và kết quả kiểm định mô hình định lượng.
Công ty Cổ phần Viễn thông FPT Chi nhánh Huế thành lập ngày 12/11/2009 (trụ sở tại 46 Phạm Hồng Thái, phường Vĩnh Ninh, TP. Huế; Giám đốc: Nguyễn Mậu Nhật Khánh), vận hành mạng lưới gồm 4 văn phòng giao dịch: Nam sông Hương (46 Phạm Hồng Thái), Bắc sông Hương (09 Nguyễn Trãi), Phú Lộc (133 Lý Thánh Tông) và Quảng Điền (29 Nguyễn Kim Thành).
Dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2017–2019 thể hiện các chỉ tiêu tài chính, lao động và kinh doanh nổi bật:
Bảng tổng hợp kết quả kinh doanh FPT Telecom Huế giai đoạn 2017–2019:
| Chỉ tiêu |
Năm 2017 (triệu VNĐ) |
Năm 2018 (triệu VNĐ) |
Năm 2019 (triệu VNĐ) |
So sánh 2018/2017 (%) |
So sánh 2019/2018 (%) |
| Doanh thu bán hàng và cung cấp DV |
37.476 |
52.008 |
76.327 |
+38,78% |
+46,76% |
| Doanh thu thuần |
37.476 |
52.008 |
76.327 |
+38,78% |
+46,76% |
| Giá vốn hàng bán |
25.069 |
36.312 |
58.230 |
+44,85% |
+60,36% |
| Lợi nhuận gộp |
12.407 |
15.696 |
18.097 |
+26,51% |
+15,29% |
| Chi phí bán hàng |
6.812 |
7.018 |
6.114 |
+3,02% |
-12,88% |
| Chi phí quản lý doanh nghiệp |
6.878 |
8.802 |
8.956 |
+27,97% |
+1,75% |
| Lợi nhuận trước thuế |
4.103 |
0 (hòa/không lãi) |
Tăng trưởng lại |
Giảm mạnh |
Phục hồi |
Bảng biến động cơ cấu lao động giai đoạn 2017–2019:
| Tiêu chí phân loại |
Năm 2017 (Người) |
Năm 2018 (Người) |
Năm 2019 (Người) |
Tỷ trọng năm 2019 (%) |
| Tổng số lao động |
200 |
191 |
222 |
100% |
| Phân theo giới tính: Nam |
98 |
110 |
121 |
54,50% |
| Phân theo giới tính: Nữ |
102 |
81 |
101 |
45,50% |
| Sau đại học |
3 |
5 |
11 |
4,95% |
| Đại học |
125 |
110 |
119 |
53,60% |
| Cao đẳng |
37 |
43 |
46 |
20,72% |
| Trung cấp |
30 |
28 |
41 |
18,47% |
| Trung học phổ thông |
5 |
4 |
5 |
2,25% |
| Phòng Kinh doanh |
87 |
78 |
91 |
40,99% |
| Phòng Kỹ thuật |
84 |
84 |
93 |
41,89% |
| Phòng Hành chính tổng hợp |
17 |
18 |
27 |
12,16% |
Bảng biến động tài sản và nguồn vốn giai đoạn 2017–2019:
| Chỉ tiêu |
Năm 2017 (triệu VNĐ) |
Năm 2018 (triệu VNĐ) |
Năm 2019 (triệu VNĐ) |
Biến động 2018/2017 |
Biến động 2019/2018 |
| Tổng tài sản |
55.199 |
46.721 |
45.358 |
-15,36% |
-2,92% |
| Tài sản ngắn hạn |
25.918 |
16.899 |
21.400 |
-34,80% |
+26,63% |
| Tài sản dài hạn |
29.281 |
29.822 |
23.958 |
+1,85% |
-19,66% |
| Tổng nguồn vốn (Nợ phải trả) |
55.199 |
46.721 |
45.358 |
-15,36% |
-2,92% |
| Vốn chủ sở hữu |
0 |
0 |
0 |
Phụ thuộc tổng công ty |
Không phát sinh |
Về sản lượng tiêu thụ FPT Play Box, số liệu thống kê từng tháng từ năm 2017 đến năm 2019 chỉ ra quy luật rõ nét:
- Đỉnh điểm tiêu thụ trong năm luôn rơi vào tháng 9 (năm 2017 đạt 651 thiết bị, năm 2018 đạt 512 thiết bị, năm 2019 đạt 671 thiết bị) do trùng với thời điểm sinh viên nhập học và người dân chuẩn bị mùa giải thể thao cuối năm.
- Điểm đáy tiêu thụ rơi vào các tháng thấp điểm như tháng 8 năm 2017 (148 thiết bị), tháng 1 năm 2018 (149 thiết bị, giảm 72,35% so với mức 541 thiết bị của tháng 1 năm 2017) và tháng 8 năm 2019 (213 thiết bị).
Về kết quả phân tích thống kê suy diễn: Tác giả tiến hành điều tra 170 khách hàng, phân tích thang đo bằng Cronbach’s Alpha và EFA cho 6 nhóm nhân tố độc lập cùng 1 thang đo biến phụ thuộc, tiếp tục đưa vào mô hình hồi quy tuyến tính và kiểm định phương sai ANOVA nhằm nhận diện thứ tự tác động của các nhân tố đến quyết định mua FPT Play Box, đồng thời thực hiện T-test và ANOVA để đánh giá sự khác biệt về hành vi lựa chọn theo giới tính, nhóm tuổi, nghề nghiệp và thu nhập.
Chương 3: Định hướng và một số giải pháp nhằm thu hút khách hàng cho sản phẩm dịch vụ truyền hình FPT Play Box tại Công ty Cổ phần viễn thông FPT Chi nhánh Huế
Dựa trên kết quả nghiên cứu và thực trạng năng lực doanh nghiệp, chương 3 đề xuất định hướng mở rộng thị phần tại Huế cùng 4 nhóm giải pháp cụ thể:
- Gia tăng hoạt động quảng cáo: Tăng cường diện diện thương hiệu thiết bị FPT Play Box trên các kênh truyền thông địa phương, mạng xã hội và các điểm bán lưu động.
- Chương trình khuyến mãi và giảm giá: Xây dựng các gói combo linh hoạt kết hợp đường truyền Internet cáp quang và thiết bị Box, áp dụng chính sách ưu đãi cước các gói nội dung mở rộng.
- Nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ: Tối ưu hóa độ ổn định của đường truyền, đảm bảo chất lượng phát hình ảnh độ phân giải cao và đa dạng hóa kho ứng dụng, tính năng điều khiển giọng nói.
- Nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng trước, trong và sau khi mua: Tinh gọn thủ tục hòa mạng, rút ngắn thời gian xử lý sự cố kỹ thuật tận nhà và chuẩn hóa tác phong tư vấn của nhân viên kinh doanh.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã trích xuất và tổng hợp được những phát hiện cụ thể gắn liền với đơn vị nghiên cứu:
- Chỉ ra quy luật tăng trưởng doanh thu liên tục qua 3 năm của FPT Telecom Huế: từ 37.476 triệu đồng (2017) lên 52.008 triệu đồng (2018, tăng 38,78%) và đạt 76.327 triệu đồng (2019, tăng 46,76%). Tuy nhiên, giá vốn hàng bán tăng nhanh hơn tốc độ tăng doanh thu (năm 2019 tăng tới 60,36%), khiến biên lợi nhuận gộp chịu sức ép lớn.
- Làm rõ đặc thù tài chính của một chi nhánh hạch toán phụ thuộc: toàn bộ nguồn vốn 45.358 triệu đồng (năm 2019) đều nằm ở khoản mục nợ phải trả nội bộ, nguồn vốn chủ sở hữu hạch toán bằng 0.
- Phát hiện chu kỳ tiêu thụ thiết bị FPT Play Box mang tính mùa vụ sâu sắc tại Thừa Thiên Huế, với sản lượng cao nhất tập trung vào tháng 9 hàng năm (đạt đỉnh 671 máy năm 2019) và mức tiêu thụ chạm đáy vào các giai đoạn giáp Tết hoặc tháng 8.
- Về mặt lý luận và đóng góp so sánh, đề tài đã điều chỉnh mô hình hành vi mua sắm tổng quát của Philip Kotler để thích ứng với sản phẩm thiết bị truyền hình OTT công nghệ cao tại một thị trường cấp tỉnh; lược bỏ các biến không phù hợp (động cơ mua sắm thông thường, địa điểm mua sắm) và bổ sung các khía cạnh dịch vụ viễn thông đặc thù (sự tin cậy, dịch vụ kỹ thuật tại nhà, tính năng giọng nói).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự chỉ ra một số điểm giới hạn xuất phát từ điều kiện thực hiện:
- Hạn chế về phương pháp chọn mẫu: Do giới hạn về thời gian thực tập (tháng 1 đến tháng 3/2020), nhân lực và kinh phí, tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện với quy mô 170 khách hàng trên địa bàn Thừa Thiên Huế, chưa bao quát được toàn diện cấu trúc dân cư tại các huyện vùng xa.
- Hạn chế về thời gian khảo sát: Dữ liệu sơ cấp chỉ phản ánh nhận thức của người tiêu dùng tại thời điểm đầu năm 2020, chưa theo dõi được biến động hành vi trong các chu kỳ dài hạn.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Các nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng phạm vi chọn mẫu theo phương pháp xác suất ngẫu nhiên, tăng kích thước mẫu điều tra và bổ sung các nhân tố công nghệ mới (như nội dung bản quyền độc quyền, trải nghiệm giao diện người dùng hệ điều hành Android TV) vào mô hình đánh giá quyết định mua sắm thiết bị truyền hình thông minh.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận có giá trị ứng dụng và tham khảo đối với nhiều đối tượng:
- Đối với sinh viên và học viên chuyên ngành Quản trị Kinh doanh, Kinh doanh Thương mại, Marketing: Tài liệu cung cấp mẫu quy trình hoàn chỉnh về việc áp dụng phương pháp định lượng (Cochran, Cronbach’s Alpha, EFA, hồi quy tuyến tính OLS, ANOVA, T-test) từ khâu thiết kế thang đo Likert đến khâu mã hóa dữ liệu trên SPSS 20.0.
- Đối với các nhà nghiên cứu về dịch vụ viễn thông: Phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và bảng mã hóa 22 biến quan sát kế thừa từ các công trình nghiên cứu viễn thông trước đó là tài liệu tham khảo trực tiếp cho các nghiên cứu về thiết bị OTT và dịch vụ số.
- Đối với bộ phận quản lý FPT Telecom Huế: Các số liệu chu kỳ kinh doanh từng tháng của FPT Play Box giai đoạn 2017–2019 và danh mục 4 giải pháp marketing là căn cứ thực tế để lập kế hoạch nhập hàng, bố trí nhân sự kỹ thuật và phân bổ ngân sách khuyến mãi hàng năm.
Câu hỏi thường gặp
1. Kích thước mẫu điều tra được tính toán dựa trên cơ sở khoa học nào?
Tác giả áp dụng công thức chọn mẫu theo tỷ lệ của Cochran (1977) với độ tin cậy 95% ($z = 1{,}96$), sai số $e = 0{,}08$, cho ra cỡ mẫu tối thiểu 151. Kết hợp điều kiện phân tích nhân tố khám phá EFA (tối thiểu 5 mẫu cho mỗi biến quan sát, $23 \times 5 = 115$), tác giả quyết định chọn cỡ mẫu chính thức là 170 khách hàng nhằm hạn chế rủi ro sai sót trong thu thập bảng hỏi.
2. Tình hình doanh thu và vốn chủ sở hữu của FPT Telecom Huế giai đoạn 2017–2019 diễn biến như thế nào?
Doanh thu thuần của công ty tăng trưởng mạnh và liên tục: từ 37.476 triệu đồng (2017) lên 52.008 triệu đồng (2018) và đạt 76.327 triệu đồng (2019). Về cơ cấu vốn, do là chi nhánh phụ thuộc của Công ty Cổ phần Viễn thông FPT, nguồn vốn chủ sở hữu của đơn vị bằng 0; toàn bộ nguồn vốn kinh doanh được ghi nhận dưới khoản mục nợ phải trả (45.358 triệu đồng vào năm 2019).
3. Số lượng nhân sự và cơ cấu trình độ học vấn tại chi nhánh thay đổi ra sao trong 3 năm?
Tổng số lao động biến động từ 200 người (2017) giảm xuống 191 người (2018), sau đó tăng lên 222 người (2019). Trong đó, lao động có trình độ đại học chiếm tỷ trọng cao nhất (53,60% năm 2019), trình độ sau đại học tăng từ 3 người lên 11 người (tăng 266,67%), và nhân sự tập trung chủ yếu ở hai bộ phận nòng cốt là Phòng Kỹ thuật (93 người) và Phòng Kinh doanh (91 người).
4. Thiết bị FPT Play Box đạt mức tiêu thụ cao nhất và thấp nhất vào thời điểm nào trong năm?
Trong cả 3 năm khảo sát (2017–2019), tháng 9 luôn là tháng có lượng tiêu thụ FPT Play Box cao nhất (lần lượt đạt 651 máy, 512 máy và 671 máy). Ngược lại, lượng tiêu thụ thấp nhất rơi vào tháng 8 năm 2017 (148 máy), tháng 1 năm 2018 (149 máy) và tháng 8 năm 2019 (213 máy).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Thị Hoài Chi đã phản ánh chi tiết thực trạng hoạt động kinh doanh, cơ cấu tổ chức và biến động tài chính của Công ty Cổ phần Viễn thông FPT Chi nhánh Huế giai đoạn 2017–2019. Đề tài xây dựng quy trình nghiên cứu định lượng bài bản thông qua việc thiết kế thang đo gồm 6 nhóm nhân tố và kiểm định trên cỡ mẫu 170 khách hàng sử dụng thiết bị FPT Play Box. Những phát hiện về tính quy luật tiêu thụ theo mùa vụ cùng hệ thống 4 nhóm giải pháp xúc tiến thương mại mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác quản trị bán hàng dịch vụ truyền hình tại địa phương.