Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Tại chương này, tác giả đưa ra ý định để lựa chọn đề tài cũng như xác định phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, tổng quan về các đề tài đã nghiên cứu trước đây có nội dung tương tự như đề tài mà tác giả nghiên cứu. Chương 2: Cơsở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 2, tác giả đưa ra cơ sở lý thuyết (các khái niệm, mô hình nghiên cứu lý thuyết) và kế thừa một số nội dung của các đề tài nghiên cứu trước đó để đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất và các nhân tố ảnh hưởng tới nội dung nghiên cứu. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Tại chương này, tác giả thông qua các phương pháp nghiên cứu định tính, định lượng sơ bộ để xây dựng mô hình nghiên cứu chính thức. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Sau khi có mô hình nghiên cứu chính thức của chương 3, tác giả tiến hành nghiên cứu chính thức thông qua các kiểm định để kiểm định lại mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu, t đó xác định các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định mua căn hộ chung cư tại khu ĐTCL. Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Chương 5 là chương mà tác giả đưa ra hàm ý quản trị cho Ban Lãnh đạo DIC Corp trong chính sách mua bán căn hộ chung cư tại khu ĐTCL và các dự án tiếp theo. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Một số khái niệm được sử dụng trong nghiên cứu 2.1 Khái niệm về hành vi mua của người tiêudùng Theo D. Bennet (1995), hành vi mua của người tiêu dùng là những hành vi mà theo người tiêu dùng thể hiện trong việc tìm kiếm, sử dụng, đánh giá sản phẩm và dịch vụ mà họ mong đợi sẽ thỏa mãn nhu cầu cá nhân của họ.
Theo Schiffman và cộng sự (2006), hành vi tiêu dùng là sự tương tác năng động của các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức, hành vi và môi trường mà qua sự thay đổi đó con người thay đổi cuộc sống của họ. Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, hành vi người tiêu dùng chính là sự tác động qua lại giữa các nhân tố kích thích của môi trường với nhận thức và hành vi của con người mà qua sự tương tác đó, con người thay đổi cuộc sống của họ. Hay nói cách khác, hành vi người tiêu dùng bao gồm những suy nghĩ và cảm nhận mà con người có được và những hành động mà họ thực hiện trong quá trình tiêu dùng. Những nhân tố như ý kiến từ những người tiêu dùng khác, quảng cáo, thông tin về giá cả, bao bì, bề ngoài sản phẩm đều có thể tác động đến cảm nhận, suy nghĩ và hành vi của khách hàng.
Nghiên cứu hành vi tiêu dùng của khách hàng, theo Kotler (2005) là một nhiệm vụ quan trọng, có ảnh hưởng rất lớn trong quá trình ra các quyết định về tiếp thị của các doanh nghiệp. Ông cho rằng, quá trình mua hàng của khách hàng bị tác động bởi một số nhân tố, chẳng hạn như: nhân tố văn hóa, nhân tố xã hội, nhân tố cá nhân và nhân tố tâm lý.2Các giai đoạn của quá trình ra quyết định muasắm Theo Kotler (2005): quá trình quyết định mua hàng của người tiêu dùng thường sẽ trải qua 5 giai đoạn: Ý thức về nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá các phương án, quyết định mua và hành vi sau khi mua. Như vậy, tiến trình quyết định mua của người tiêu dùng đã bắt đầu trước khi việc mua thực sự diễn ra và còn kéo dài sau khi mua. Ý thức về —► Tìm kiếm Đánh giá Quyết Hành vi sau nhu cầu thông tin các phương định mua khi mua Theo Kotler (2005) Hình 2.1: Các giai đoạn của quá trình mua Mô hình về tiến trình quyết định mua của người tiêu dùng trên đây bao quát đầy đủ những vấn đề nẩy sinh khi một người tiêu dùng cần lựa chọn mua sắm các sản phẩm và nhãn hiệu, nhất là khi đứng trước một việc mua sắm mới cần để tâm nhiều.Tuy nhiên, trong trường hợp những sản phẩm hay nhãn hiệu mà người tiêu dùng thường xuyên mua, ít cần để tâm, thì người mua có thể bỏ qua hay đảo lại một số giai đoạn trong tiến trình đó.
Ý thức về nhu cầu Tiến trình mua khởi đầu với việc người mua ý thức được nhu cầu. Người mua cảm thấy có sự khác biệt giữa trạng thái thực tế và trạng thái mong muốn. Nhu cầu có thể bắt nguồn từ các tác nhân kích thích bên trong và bên ngoài của chủ thể. Trong trường hợp các tác nhân bên trong, một trong số những nhu cầu bình thường của người ta như đói, khát, tính dục tăng dần lên đến một mức độ nào đó và trở thành một niềm thôi thúc.
Do kinh nghiệm có trước đó, người ta hiểu được cách thức giải quyết sự thôi thúc này và động cơ của nó sẽ hướng đến những phương tiện có thể thỏa mãn được sự thôi thúc. Ho ặc một nhu cầu có thể phát sinh từ một tác nhân kích thích từ bên ngoài, chẳng hạn từ báo chí, quảng cáo, bạn bè, xã hôi, v.Khi thấy trên mạng đưa thông tin nhiều người trúng xổ số đặc biệt Jackpot của Mega6/45 với giá trị vài chục tỷ đồng, thậm chí hằng trăm tỷ đồng thì nhu cầu mua vé số Mega6/45 tăng lên. Tìm kiếm thông tin Một người tiêu dùng đã có nhu cầu, thì bắt đầu tìm kiếm thông tin. Nếu sự thôi thúc của người tiêu dùng mạnh, và sản phẩm vừa ý nằm trong tầm tay, người tiêu dùng rất có thể sẽ mua ngay.
Nếu không, người tiêu dùng đơn giản chỉ lưu giữ nhu cầu trong tiềm thức. Người tiêu dùng có thể Không chịu tìm hiểu thêm thông tin, tìm hiểu thêm một số thông tin, ho ặc rất tích cực tìm kiếm thông tin liên quan đến nhu cầu. Trong trường hợp họ muốn tìm kiếm các thông tin, thường có các nguồn thông tin sau: •Nguồn thông tin cá nhân: thu nhận được từ gia đình, bạn bè, hàng xóm và người quen. •Nguồn thông tin thương mại: thu thập được qua quảng cáo, nhân viên bán hàng, nhà buôn, bao bì hay các cuộc trưng bày sản phẩm.
•Nguồn thông tin công cộng: thu nhận được từ các phương tiện truyền thông đại chúng và các tổ chức. •Nguồn thông tin: t kinh nghiệm bản thân có được qua tiếp xúc, khảo sát hay sử dụng sản phẩm. Ảnh hưởng tương đối của những nguồn thông tin này đến quyết định mua sắm của người tiêu dùng thay đổi tùy theo loại sản phẩm và các đ c điểm của người mua. Nói chung, người tiêu dùng tiếp nhận hầu hết những thông tin về các sản phẩm t các nguồn thông tin thương mại.
Đánh giá các phương án lựa chọn Khi lựa chọn sản phẩm để mua và tiêu dùng, người tiêu dùng muốn thỏa mãn ở mức độ cao nhất nhu cầu của mình bằng chính sản phẩm đó. Họ tìm kiếm trong giải pháp của sản phẩm những lợi ích nhất định. Người tiêu dùng xem mỗi sản phẩm như một tập hợp các thuộc tính với những khả năng đem lại những lợi ích mà họ mong muốn có được và thỏa mãn nhu cầu của họ ở những mức độ khác nhau. Những thuộc tính mà người tiêu dùng quan tâm thay đổi tùy theo sản phẩm.
Đối với máy thu hình là độ nét của hình ảnh, chất lượng của âm thanh, độ trung thực của màu sắc, tính dễ sử dụng và giá cả hợp lý. Đối với xe hơi là mức độ an toàn, sự tiện nghi, kiểu dáng hợp thời và độ bền sử dụng. Đối với sản phẩm là nhà ở thì thuộc tính sản phẩm chính sẽ là kiến trúc xây dựng, chất lượng dịch vụ, giá ngôi nhà. Ngay cả khi đánh giá về một sản phẩm, sự nhìn nhận của họ về những thuộc tính mà họ cho là quan trọng nhất hay nổi bật nhất cũng không hoàn toàn giống nhau.
Cũng cần lưu ý rằng, những thuộc tính nổi bật nhất không phải bao giờ cũng là những thuộc tính quan trọng nhất. Một số thuộc tính nỏi bật lên vì người tiêu dùng bị ảnh hưởng của một quảng cáo có nhấn mạnh về thuộc tính ấy. Ngược lại, một thuộc tính nào đó không thật sự nổi bật có thể do người tiêu dùng đã lãng quên nó, nhưng khi được nhắc đến thì được thừa nhận là quan trọng. Quyết định mua sắm Trong giai đoạn đánh giá, người mua sắp xếp các nhãn hiệu trong nhóm nhãn hiệu đưa vào để lựa chọn theo các thứ bậc và t đó bắt đầu hình thành ý định mua nhãn hiệu được đánh giá cao nhất.
Bình thường, người tiêu dùng sẽ mua nhãn hiệu được ưu tiên nhất. Nhưng có hai nhân tố có thể dẫn đến sự khác biệt giữa ý định mua và quyết định mua. Đó là: - Thái độ của những người khác, như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp. - Các nhân tố của hoàn cảnh, như hy vọng về thu nhập gia tăng, mức giá dự tính, sản phẩm thay thế.
Hai nhân tố này có thể làm thay đổi quyết định mua, ho c không mua ho c mua một nhãn hiệu khác mà không phải là nhãn hiệu tốt nhất như đã đánh giá. Hành vi sau mua Sau khi mua sản phẩm, người tiêu dùng sẽ cảm thấy hài lòng hay không hài lòng ở một mức độ nào đó, cần chú ý ba động thái của người tiêu dùng sau khi mua. Sự hài lòng sau khi mua: Mức độ hài lòng của người mua tùy thuộc vào kỳ vọng của người mua đối với sản phẩm và các tính năng sử dụng đã được nhận thức đối với sản phẩm. Nếu tính năng của sản phẩm làm thỏa mãn được các kỳ vọng, người tiêu dùng sẽ hài lòng, nếu nhiều hơn thế, người tiêu dùng càng hài lòng, nếu chưa đạt tới, người tiêu dùng sẽ thất vọng.
Thái độ đó đưa đến hai trường hợp khác nhau: ho c sẽ tiếp tục mua sản phẩm và nói tốt về nó; ho c không mua nữa và nói xấu sản phẩm đó với người khác (Kotler,2001). Các hành động sau mua: Sự hài lòng hay không hài lòng về sản phẩm của người tiêu dùng sẽ ảnh hưởng đến hành vi tiếp theo (Kotler,2001). Việc sử dụng và giải quyết sau khi mua: Doanh nghiệp cần nghiên cứu việc sử dụng và xử lý sản phẩm của khách hàng sau khi mua để biết được các vấn đề cơ hội có thể phát sinh khi người tiêu dùng sử dụng sản phẩm/dịch vụ của mình.3 Khái niệm chung cư và phân loại chungcư 2.