Lời mở đầu, khóa luận được chia thành bốn chương chính, với kết cấu như sau: Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VA TONG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm ví điện tử Thanh toán điện tử (Electronic Payment - E-Payment) nói chung và ví điện tử nói riêng đã thu hút được rất nhiều sự chú ý của các nhà nghiên cứu và các nhà thiết kế hệ thống thông tin do vai trò quan trọng của chúng trong thương mại điện tử hiện đại. Thanh toán qua thiết bị di động đang mở ra một cuộc cách mạng toàn cầu về thương mại điện tử, mang lại nhiều cơ hội cho các tác nhân trong nền kinh tế và là nhân tố quan trọng thúc đẩy tài chính toàn diện cho các quốc gia. Điều này càng trở nên có cơ sở khi mà các nước trên thế giới đã, đang đi theo xu hướng cách mạng 4.0 - dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công nghệ thông minh để tối ưu hóa năng suất lao động, từ đó tiết kiệm được chỉ phí, mang lại nhiều hơn lợi ích cho người tiêu dùng.
Chức năng của ví điện tử Hệ thống ví điện tử ngày càng được phổ biến và nâng cấp mang tới nhiều chức năng tiện ích cho người dùng, điển hình như: - Chi trả trực tuyến: đây là chức năng chính được khai thác triệt để của ví điện tử. Người dùng có thể dùng số tiền đã được nạp trong tài khoản ví điện tử để thanh toán hóa đơn và mua sắm trực tuyến các sản phẩm, dịch vụ không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn là phạm vi mua sắm trên toàn thế giới một cách dễ dàng. - Thanh toán hóa đơn tiện ích: giúp người dùng thanh toán các hóa đơn tiện ích của các dịch vụ thiết yếu cho cuộc sống như tiền điện, tiền nước sạch, cước phí điện thoại,cước dịch vụ internet, phí vệ sinh,. ở bất cứ nơi đâu và bất cứ lúc nào.
- Nạp thẻ cào các dịch vụ phụ: Hiện nay các nhà cung cấp dịch vụ hầu hết đã tích hợp tính năng ví điện tử cho phương thức thanh toán ngoài phương thức thanh toán bằng tiền mặt như: nạp thẻ điện thoại, nạp thẻ game online hay nạp tiền vào tài khoản trên các diễn đàn. - Mua vé điện tử: mức sống của người dân tăng lên kéo theo sự gia tăng nhu cầu của người tiêu dùng về các dịch vụ giải trí và thư giãn như xem phim, xem ca nhạc, đi du lịch, làm đẹp, thư giãn tại các trung tâm giải trí,. Người dùng sẽ chỉ mất vài phút lướt web hoặc bấm điện thoại mua vé cho dịch vụ mình mong muốn với số lượng vé được cung cấp lớn và thông tin dịch vụ đầy đủ để khách hàng có thể thoải mái lựa chọn. - Thanh toán các dịch vụ khác: Các trường học, bệnh viện, khách sạn và một số nhà cung cấp dịch vụ đã áp dụng phương thức ví điện tử trong khâu thanh toán của mình.
Giờ đây một lượng lớn thông tin về chi phí các khóa học, liệu trình chữa trị tại bệnh viện và hơn nữa là thông tin về giá phòng khách sạn được cập nhật liên tục trên trang web của một số nhà cung cấp. Khách hàng có thể thanh toán phí cho các dịch vụ một cách nhanh chóng về tiện lợi. Ngoài ra, một số doanh nghiệp cung cấp sản phẩm bảo hiểm cũng đã tích hợp và cho phép khách hang của họ thanh toán phí bảo hiểm bằng phương thức ví điện tử. - Nhận và chuyển tiền qua mạng: Tiền trong tài khoản được nạp bằng cách mang tiền mặt tới ngân hàng nạp trực tiếp như nạp tiền vào tài khoản ngân hàng thông thường hoặc nhận tiền được chuyển từ một tài khoản khác.
Khi đã có sẵn tiền trong tài khoản ví điện tử , người dùng cũng có thể chuyển tiền tới tài khoản khác thông qua các thiết bị điện tử. - Giúp lưu trữ và quản lý tiền qua mạng: Hầu hết người tiêu dùng sẽ giữ một khoản tiền dành riêng cho chỉ tiêu trong cuộc sống. Người dùng ví điện tử sẽ lưu giữ phần lớn số tiền chỉ tiêu đó trong tài khoản của mình để có thể thanh toán ngay khi cần thiết mà không cần phải mang tiền theo tránh được nhiều rủi ro. Người dùng ví điện tử cũng có thể quản lý và vấn tin tài khoản một cách đơn giản.
Vai trò của ví điện tử So với phương thức thanh toán truyền thống, ví điện tử có tốc độ xử lý cao và tính rủi ro giữ tiền thấp mang lại nhiều tiện ích hơn cho người sử dụng, cho các ngân hàng và cho toàn bộ nền kinh tế nói chung. Đo với phương thức sử dụng: Trong hoạt động thương mại điện tử, ví điện tử là phương thức được sử dụng bởi cả người mua và người bán nhờ các ưu điểm sau: - Giao dịch nhanh chóng, bắt kịp xu thế thị trường: Mua bán trực tuyến, bán hàng online dần trở thành trào lưu, các phương thức thanh toán trên thiết bị điện tử cũng dần được chú trọng. Các bên giao dịch có thể thực hiện chuyển tiền nhanh chóng mà không cần đích thân mang tiền mặt đi gửi hoặc đến ngân hàng chuyển tiền như trước và thực hiện hoạt động thanh toán bất cứ lúc nào ở bất cứ đâu thay vì trực tiếp thanh toán như phương thức thanh toán truyền thống. - Dễ dàng hơn trong quản lý tài khoản: Bất cứ một giao dịch hay hành động nào liên quan đến tài khoản đều được thông báo tới thiết bị điện tử của người dùng và phi lại lịch sử với đầy đủ nội dung về thời gian, nội dung và số tiền giao dịch trên hệ thống điện tử.
Chủ tài khoản có thể dễ dàng theo dõi hiện trạng tài khoản cũng như tìm lại các giao dịch đã từng được thực hiện. - Giảm thiểu rủi ro khi dùng tiền mặt: Dùng tiền mặt là quan điểm xưa cũ và mang tới rất nhiều rủi ro cho người giữ tiền. Việc hạn chế dùng tiền mặt luôn được khuyến khích bởi các chuyên gia vì nó làm hạn chế tối đa những thất thoát và rủi ro cho người giữ tiền. Ngoài ra, phương thức ví điện tử còn mang lại những lợi ích riêng cho các doanh nghiệp đóng vai trò là người bán trong thương mại điện tử: - Nâng cao hiệu quả mua sắm: Khách hàng không phải chờ xếp hàng để mua sản phẩm hoặc dịch vụ khi sử dụng một hệ thống ví điện tử.
Loại hiệu quả mua hàng này thực sự có thể khuyến khích người tiêu dùng mua hàng từ doanh nghiệp thường xuyên hơn. - Tăng bảo mật thanh toán: Có rất nhiều biện pháp bảo mật và các giao thức phù hợp để đảm bảo các giao dịch trực tuyến được an toàn. Kiểm soát các khoản: - Tăng số lượng tài khoản: Điều thiết yếu để có thể sử dụng phương thức ví điện tử là khách hàng phải có tài khoản ngân hàng. Từ đó, ví điện tử tạo ra cơ hội gia tăng số lượng tài khoản thanh toán cho các ngân hàng cung cấp dịch vụ ví điện tử - điều mà các ngân hàng luôn cố gắng đạt được.
- Hoa hồng và khoản phí dịch vụ: Khi cung cấp dịch vụ ví điện tử, các ngân hàng sẽ liên kết với các nhà mạng Internet và các nhà mạng di động để sản phẩm được phân phối và hoạt động thông qua kênh viễn thông của nhà mạng. Đó là mối quan hệ đôi bên cùng có lợi, khi khách hàng sử dụng phương thức thanh toán trực tuyến, ngân hàng cung cấp dịch vụ thanh toán đó sẽ nhận được phần hoa hồng nhất định theo thỏa thuận cụ thể với các nhà mạng. - Mở rộng và đẩy mạnh thương hiệu: Như đã biết, ví điện tử là phương thức thanh toán hiện đại mang lại nhiều tiện ích cho người sử dụng. Điều đó tạo động lực cho các ngân hàng xây dựng chiến lược cung cấp các sản phẩm thanh toán hiện đại để đáp ứng nhu cầu của người dùng.
Một điều hiển nhiên là những ngân hàng làm được điều đó sẽ có thể gia tăng tính cạnh 10 tranh so với các ngân hàng khác và tạo ảnh hưởng tích cực tới thương hiệu của chính mình. Đối với nhà nước - Giảm rủi ro lưu thông tiền mặt: Tiền mặt lưu thông trên thị trường mang lại nhiều rủi ro cho nền kinh tế mà nhà nước không hề khuyến khích sự lưu thông này. Trong đó, lạm phát và nạn lưu thông tiền giả là hai rủi ro dẫn tới nhiều hậu quả và đang được quan tâm nhất. Sự hiện diện của ví điện tử giúp số hóa phần nào lượng tiền lưu thông trên thị trường góp phần giảm bớt rủi ro lưu thông tiền mặt.
Khung lý thuyết về quyết định lựa chọn của khách hàng 2. Lý thuyết hành động hợp lý (TRA) Mô hình TRA dự đoán và phân tích xu hướng thái độ hướng đến hành vi của người tiêu dùng rõ ràng hơn là thái độ của họ hướng đến để tra soát lại mối liên quan giữa hành vi và thái độ của các đề tài trước đó TRA được đề ra. Để tra soát lại mối liên quan giữa hành vi và thái độ của các đề tài trước đó TRA được đề ra (Hale, 2003).1 diễn giải các cấu phần trong mô hình TRA Hình 2. Mô hình TRA.
Niềm tin và sự nna dean danh gia vi Y dinh hanh vi Niém tin quy Quy chuẩn chuân và động | _———y chủ quan cơ (Nguồn: Ajzen, 1975) Các thành phần trong mô hình TRA bao gồm: - Hành vi: hoạt động của đối tượng được quan sát được thúc đẩy bởi ý định hành vi 11 - Ý định hành vi định lượng giới hạn sự chủ quan của đối tượng sẽ tiến hành một hành vi và gần như được coi là một trường hợp đặc biệt của niềm tin (Fishbein và Ajzen, 1975). Thái độ của đối tượng đến các hành vi và chuẩn chủ quan là yếu tố quyết định trực tiếp. - Thái độ là thái độ đối với một hành động hoặc một hành vi, đại diện cho nhận thức tích cực hoặc tiêu cực của đối tượng về việc thực hiện một hành vi, có thể được nhận định bằng tổng hợp của sức mạnh của sự tin tưởng và đánh giá niềm tin này (Hale, 2003). Họ có khả năng tham gia hoặc thực hiện hành vi nếu thành quả đem lại lợi ích cá nhân (Fishbein và Ajzen, 1975).
- Chuẩn chủ quan có thể được nhận định bởi những người có kết nối với người tiêu dùng, được xác định bởi đức tin tiêu chuẩn cho việc mong chờ thực hiện hành động và động lực cá nhân tiến hành theo kỳ vọng đó (Fishbein và Ajzen, 1975).