Mở đầu Giới thiệu lí do chọn đê tài, đưa ra mục tiêu nghiên cứu, đôi tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu, cấu trúc đề tài. Chương 2: Tong quan Giới thiệu tổng quan cung cấp va dich vụ 4G tại Việt Nam. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu nước ngoài va tài liệu nghiên cứu trong nước. Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu Đưa ra những nội dung khái quát về dịch vụ và chất lượng của dịch vụ.
Những van đề liên quan đến 4G. Trình bay phương pháp nghiên cứu dé kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết đã đề ra, đưa ra thang đo nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trình bày kết quả nghiên cứu, đánh giá và kiểm định thang đo cho các khái niệm nghiên cứu, kiểm định sự phù hợp của mô hình và kiểm định giả thuyết đã đề ra ở chương 3. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Tổng hợp những đánh giá nội dung, nêu nhận xét.
Đồng thời đề xuất một số biện pháp nhằm áp dụng kết quả nghiên cứu vao thực tiễn. CHƯƠNG 2 TỎNG QUAN 2. Tổng quan về 4G tại Việt Nam 2. Tổng quan về Sự cung cấp 4G tại Việt Nam Các nhà mạng viễn thông dù đã nhiều lần triển khai thử nghiệm 4G tại Việt Nam nhưng mãi đến năm 2017 mới được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép cung cấp dịch vụ 4G.
Với giấy phép này, 4 nhà mạng được quyền phát triển dịch vụ 4G tại Việt Nam gồm Viettel, Mobifone, VNPT, Gmobile. Đáng chú ý là tất cả các nhà cung cấp này đều được cấp giấy phép khai thác dich vụ ở băng tan 1800 MHz. Về lý thuyết, băng tần càng cao thì vùng mạng càng rộng và tốc độ cảng nhanh. Điều này đòi hỏi nhiều trạm gốc hơn, vì vậy chi phí phát triển tăng lên đáng kể.
Có hai lý do khiến Bộ Thông tin và Truyền thông quyết định chon băng tần này dé cấp phép cho các nhà phát triển dịch vụ 4G : Thứ nhất, việc lựa chọn băng tần 1800 MHZ tỏ ra hiệu quả cho việc phát triển 4G khi nhiều băng tần khác các nước trên thế giới đã sử dụng. Thống kê từ Hiệp hội các nhà cung cấp di động toàn cầu (GSA) minh họa 1800 MHZ hiện được đánh giá là băng tần tốt nhất cho việc phát triển và thương mai hóa 4G LTE Công nghệ. Trong tổng số 521 mạng LTE, có tới 246 mạng được phát triển trên băng tần này, chiếm 47% mạng 4G trên thế giới. Theo GSA, mang LTE sử dụng băng tần 1800 MHz, thường được gọi là LTE 1800, được phát triển ở 110 trong số 170 quốc gia trên thế giới để thương mại hóa 4G.
Thứ hai, băng tan 1800 MHz tương thích cao với nhiều thiết bị khác nhau. Có đến 60% thiết bị viễn thông trên thế giới có các chức năng tương thích với băng tần 1800 MHz.889 trên tổng số 6.504 thiết bị có thé hỗ trợ và chạy trên băng tần này. Đây là băng tân được nhiêu nhà cung câp mạng cũng như nhà sản xuât lựa chọn. Khi nhận được giấy phép, Viettel trở thành nhà cung cấp mạng di động đầu tiên khai trương dịch vụ 4G tại Việt Nam vao ngày 18 tháng 4 năm 2017.
Sáu tháng sau, Viettel xây dựng được gần 36.000 trạm BTS 4G đề thực hiện cam kết phủ sóng gần như toàn bộ lãnh thô Việt Nam bằng địch vụ 4G. VinaPhone và MobiFone, hai nhà cung cấp dich vụ di động hàng đầu khác, đang nhanh chóng xây dựng cơ sở hạ tầng dé chuẩn bị cho 4G. Theo kế hoạch đầy tham vọng của mình, MobiFone sẽ xây dựng 30.000 trạm BTS dé đảm bảo chất lượng dich vụ 4G Đến tháng 10/2016, nhà cung cấp này đã đặt lên 4. Mạng 4G MobiFone được Tập đoàn Viễn thông MobiFone ra mắt ngày 1/7/2017.
Sau hai năm hoạt động, MobiFone đã phủ sóng 4G trên 95% diện tích cả nước. Trong Quý 1 năm 2019 Riêng MobiFone đã xây dựng hơn 4. Cuối năm 2019, MobiFone mở rộng mạng lưới và nâng số lượng trạm phát 4G lên trên 30.000, công ty có vùng phủ sóng 4G toàn nước với chất lượng cao tại một số thị trường trọng điểm. Nhờ liên tục đầu tư và bổ sung cho 4G hạ tang, nha cung cấp mạng đã đạt được những thành tựu đáng kê khi chất lượng dich vụ 4G của họ đã vượt tiêu chuẩn quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông.
Kết quả đánh giá các kết nối Internet (qua 3G, 4G) tại 6 tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Trị, Quảng Bình, Bến Tre, Tiền Giang do Cục Viễn thông công bé tháng 6/2018 cho thấy tat cả các chỉ số của 4G dich vụ của 3 nhà cung cấp Viettel, VinaPhone, MobiFone đều vượt chuẩn. Số liệu thống kê của Cục Viễn thông, Bộ Thông tin và Truyền thông trong Hội thảo quốc tế 4G LTE do Hiệp hội Internet Việt Nam phối hợp với dit liệu Quốc tế tổ chức. Tập đoàn IDG tại Hà Nội ngày 27/7/2017 cho biết hiện Việt Nam có khoảng 60 triệu băng thông rộng thuê bao, trong đó có 48 triệu thuê bao di động băng rộng. 6 thang sau khi dịch vụ 4G ra đời, mới có 6,3 thuê bao chuyển sang sim 4G và hiện mới có 3,5 triệu thuê bao đang sử dụng dịch vụ 4G.
Tuy nhiên, so với một số quốc gia khác trên thế giới, tốc độ phát triển của 4G so với 3G là không thực sự cao. Thống kê do Cục Viễn thông đưa ra cũng bao gồm kết quả đánh giá chất lượng dịch vụ 4G của các nhà cung cấp dựa trên 5 tiêu chí: mạng vô tuyến khả dụng, tỷ lệ tiếp cận dịch vụ thành công, truy cập dịch vụ trung bình thời gian, tỷ lệ giới hạn truyền dữ liệu và tốc độ truyền đữ liệu. 6 Cục đã tiến hành thử nghiệm các dich vụ do MobiFone cung cấp từ ngày 19 đến 26/7 tại Hà Nội. Kết quả cho thấy rằng tính khả dụng của mạng vô tuyến của nó là 99,98%, tỷ lệ truy cập thành công dịch vụ là 100%, tỷ lệ cắt truyền dữ liệu là 0,74%, thời gian truy cập dịch vụ trung bình là 1,69 giây, tốc độ download và upload trung bình lần lượt là 36,91Mbit/s và 19,28 Mbit/s.
Dựa trên kết qua của Cục, có thé thấy Viettel đang dẫn đầu về độ sẵn sảng của mạng vô tuyến với tỷ lệ 100% trong khi MobiFone chỉ đạt 99,98%. Nhưng tốc độ upload và download của mạng 4G MobiFone cao hơn so với Viettel khi Viettel chỉ dat tốc độ lần lượt là 34,9 Mbit/s và 16,88 Mbit/s. Cũng trong hội nghị nay, IDG đã công bố báo cáo khảo sát mức độ hai lòng của người tiêu dùng với 4G LTE tại Việt Nam được thực hiện với 13.828 người tham gia từ ngày 1/4 đến 1/7/2017. Báo cáo cho thay 88% người dùng 4G sống tại Hà Nội và TP.HCM, 74% là sinh viên, tiêu thương, nội trợ, 51% có thu nhập từ 5-10 triệu đồng một thang, 38% ở độ tuổi 20- 30.
Về mức độ hải lòng với 4G, 56% người dùng làm nghề tự do và tài xế Uber/Grab hai lòng với độ ổn định của 4G, 7% cho biết họ không hài lòng với dịch vụ 4G. Về chi phí 4G, 79% người dùng tin là có cần có thêm các chương trình quảng bá, tiếp thị cho 4G. Về mục đích sử dụng 4G, 29% người dùng thông báo rằng họ sử dụng 4G dé làm việc, bao gồm thanh toán, kinh doanh, quảng cáo, hội nghị, v. trong khi 56% cho biết họ sử dụng 4G để giải trí bao gồm lướt mạng xã hội, xem phim và TV, nghe nhạc, choi game, V.
Báo cáo cũng chỉ ra rằng trong 3 nhà cung cấp dich vụ 4G LTE tại Việt Nam, có 52% người dùng sử dụng dịch vụ 4G của Viettel, 21% sử dụng dịch vụ 4G của VinaPhone và 27% sử dụng dịch vụ 4G của MobiFone. Trong số đó, MobiFone là được đánh giá là nhà cung cấp có chất lượng dịch vụ 4G khác biệt, VinaPhone được đánh giá là nhà cung cấp có dịch vụ chăm sóc khách hàng tốt nhất dịch vụ chăm sóc theo khảo sát do tổ chức IDG (International Data Group) thực hiện. Khảo sat năm 2017 của Buzzmetric (trang chuyên nghiên cứu và phân tích mạng xã hội tại Việt Nam) thực hiện với sự tham gia của 2.100 người dùng về dịch vụ 4G cho thấy chỉ 32% người nhận cho biết đã sử dụng và cảm thấy hài lòng với 4G. Kết quả khảo sát cũng chỉ ra rằng trước khi sử dụng, chỉ có 8% trên tông số 2.100 người nói họ sẽ 7 không chon dùng 4G nhưng sau khi trải nghiệm mạng tỷ lệ người dùng không hai lòng tăng cao đến 35%, tức là có khoảng 735 người Việt Nam không hài lòng với mạng 4G.
Theo OpenSignal ghi nhận vùng phủ sóng 4G của Việt Nam là 71,26% diện tích địa lý, cao hơn một số nước các nước lớn khác như Ý (69,66%), Pháp (68,31%) hay Đức (65,67%). Về vùng phủ sóng 4G, Hàn Quốc đứng đầu danh sách với 97,49%, tiếp theo là Nhật Bản với 94,7%. So với các nước khác trong Đông Nam Á (ASEAN), vùng phủ sóng 4G của Việt Nam xếp sau Thái Lan, Singapore, Malaysia, Brunei và Indonesia. Tốc độ trung bình của mạng 4G Việt Nam đạt 21,49 Mbps, cao hơn một số nước Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia, Brunei, Myanmar và Indonesia.
Xét về tốc độ 4G, Việt Nam chỉ xếp sau Singapore, nơi có tốc độ 4G cao nhất thế giới với 44,31 Mbps. Một cuộc khảo sát khác được thực hiện bởi IDG Việt Nam và Hiệp hội Truyền thông số từ 01/01 đến 20/03/2019 tại các địa phương gồm 9 tỉnh thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phong, Quảng Ninh, TP.HCM, Binh Dương, Vũng Tau, Da Nẵng, Huế, Cần Thơ. 8 tiêu chí được lựa chọn dé bình chon bao gồm: cường độ tín hiệu, vùng phủ sóng, kết nối sự ồn định vào gi0 cao diém, su tương đương giữa chất lượng và giá cả, tốc độ download, upload, tốc độ xem/tải phim và tần suất sử dụng mạng xã hội. Theo 8 tiêu chí này, VinaPhone đạt 90,0 điểm cao nhất trong các nhà cung cấp; Viettel giữ vững thị trường dẫn đầu về vùng phủ sóng và cường độ tín hiệu nhờ hệ thống trạm 4G khủng; MobiFone thực hiện không có vùng phủ sóng lớn bằng hai nhà cung cấp còn lại nhưng độ ôn định kết nối cao hơn, đặc biệt tại một số thị trường trọng điểm như Hà Nội, TP.HCM, MobiFone là nhà mạng có tốc độ kết nối 4G cao nhất tốc độ, vận tộc.
Tổng quan về sử dụng 4G tại Việt Nam Tại Việt Nam hiện có 3 công ty phát triển và cung cấp dịch vụ 4G là Viettel, VinaPhone và MobiFone. Vietnamobile và Gmobile được cấp phép nhưng chưa cung cấp dịch vụ. Trong 3 nhà cung cấp này, Viettel có vùng phủ lớn nhất.