CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CÁC NHÂN TỐ ĐẾN THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP Nghiên cứu về thành quả cũng như các nhân tố tác động đến thành quả hoạt động của doanh nghiệp luôn là vấn đề được các nhà khoa học quan tâm. Có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này được thực hiện trên thế giới và được thực hiện từ những năm 50 của thế kỷ 20. Dựa trên phương pháp nghiên cứu tài liệu, tổng hợp và giải thích, nội dung chương này cung cấp khuôn khổ lý thuyết cho việc thực hiện luận án. Việc phân tích bản chất của các lý thuyết có liên quan, tổng hợp các bằng chứng thực nghiệm dựa vào các lý thuyết này sẽ cung cấp cơ sở khoa học để giải thích ảnh hưởng của các nhân tố đến thành quả hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Kết cấu của chương này được tổ chức như sau: Nội dung thứ nhất trình bày về khái niệm thành quả và đo lường thành quả hoạt động của doanh nghiệp qua đó đưa ra cách tiếp cận thành quả hoạt động của doanh nghiệp của luận án. Nội dung thứ hai tổng lược các nhân tố tác động đến thành quả hoạt động của doanh nghiệp. Nội dung thứ ba trình bày các lý thuyết chủ yếu có liên quan mà các tác giả đã sử dụng để giải thích tác động của các nhân tố đến thành quả hoạt động của doanh nghiệp. Nội dung thứ tư trình bày tổng hợp kết quả các nghiên cứu dựa vào các lý thuyết này.
Thành quả và đo lường thành quả hoạt động của doanh nghiệp 1. Khái niệm thành quả hoạt động của doanh nghiệp Thành quả hoạt động doanh nghiệp (firm performance) là một khái niệm phổ biến trong các nghiên cứu về quản trị doanh nghiệp, tài chính, kế toán và được nhìn nhận dưới nhiều chiều hướng, khía cạnh khác nhau trong thực tiễn. Ở thập niên 50 của thế kỷ 20, thành quả được xem là hiệu năng (efficiency), theo đó phản ảnh mức độ doanh nghiệp đạt được mục tiêu của mình trong phạm vi các nguồn lực khan hiếm của doanh nghiệp (Georgopoulos và Tannenbaum, 1957). Quan niệm này phù hợp với bối cảnh sản xuất hàng loại có ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức quá trình sản xuất, nên hiệu năng - phản ảnh mối quan hệ giữa đầu ra với nguồn lực đầu vào - là một tiêu chuẩn phù hợp để thể hiện thành quả.
8 luan an Trong hai thập niên 60 và 70, các doanh nghiệp bắt đầu khai thác nhiều cách thức khác nhau để đánh giá thành quả của mình do có sự thay đổi phương thức sản xuất, cách thức quản trị doanh nghiệp với mức độ cạnh tranh ngày càng tăng. Seashore và Yuchtman (1967) định nghĩa thành quả là khả năng của doanh nghiệp khai thác môi trường kinh doanh để có thể tiếp cận và sử dụng các nguồn lực khan hiếm. Lupton (1977) xem thành quả của một DN theo một cách thức thận trọng và rõ ràng khi cho rằng, một doanh nghiệp đạt hiệu quả cao khi năng suất và mức độ hài lòng các thành viên của tổ chức ở mức cao trong khi tỷ lệ nghỉ việc, sự không hài lòng của người lao động và chi phí ở mức thấp. Như vậy thành quả được quan niệm đa chiều hơn, không chỉ là việc sử dụng các nguồn lực để tạo kết quả đầu ra một cách tốt nhất mà còn liên quan đến khả năng tiếp cận các nguồn lực để đạt mục tiêu của doanh nghiệp.
Những năm cuối của thể kỷ 20 chứng kiến nhiều thay đổi về phương thức quản trị và mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Porter (1979) cho rằng thành quả hoạt động của DN phụ thuộc vào khả năng tạo ra giá trị cho khách hàng. Adam (1994) xem xét thành quả của một tổ chức tùy thuộc rất lớn vào mức độ chất lượng của đội ngũ lao động. Chính nguồn lực lao động này nếu được đào tạo và đào tạo lại kiến thức, kỹ năng sẽ giúp doanh nghiệp đuổi kịp với những thử thách trên thị trường và làm tăng thành quả của tổ chức.
Harrison và Freeman (1999) xác nhận một doanh nghiệp có hiệu quả với mức hoạt động đạt chuẩn là một DN duy trì các nhu cầu được thỏa mãn của các bên có liên quan. Những quan điểm đa dạng trên cho thấy thành quả có tính đa dạng hơn và liên quan đến lợi ích của các bên có liên quan, từ khách hàng đến người lao động trong doanh nghiệp. Hai thập niên đầu của thể kỷ 21 chứng kiến nhiều thay đổi của ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất và quản lý, mức độ hội nhập toàn cầu ngày càng nhanh và cùng với đó là chứng thách thức của biến đổi khí hậu toàn cầu. Trách nhiệm xã hội của mỗi doanh nghiệp được đề cập nhiều hơn.
Sandberg (2003) định nghĩa thành quả hoạt động của doanh nghiệp là khả năng đóng góp của doanh nghiệp về việc làm, sự sáng tạo xuyên suốt quá trình hình thành, sinh tồn và tăng trưởng của doanh nghiệp. Lebas và Euske (2006) còn đưa ra một tập hợp định nghĩa cho thành quả hoạt động của doanh nghiệp. Theo đó: 9 luan an - Thành quả là một bộ các chỉ số tài chính và phi tài chính cung cấp thông tin về mức độ đạt được các mục tiêu và kết quả. - Thành quả là năng động, đòi hỏi sự phán đoán và giải thích.
- Thành quả có thể được minh họa bằng cách sử dụng một mô hình nhân quả mô tả mức độ ảnh hưởng của hành động hiện tại đến kết quả trong tương lai. - Thành quả có thể được hiểu một cách khác nhau tùy thuộc vào người đánh giá thành quả của tổ chức - Định nghĩa khái niệm thành quả phải hiểu được các đặc trưng cơ bản của mỗi vùng trách nhiệm. Như vậy một cách tổng quát, thành quả được hiểu như sau: Thành quả là một bộ các chỉ số tài chính và phi tài chính cung cấp thông tin về mức độ đạt được các mục tiêu và kết quả, gắn liền với lợi ích các bên có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp. Tóm lại: Qua tổng quan các khái niệm về thành quả hoạt động ở trên, có thể rút ra một số kết luận sau: Một là: khái niệm thành quả luôn thay đổi theo thời gian, phù hợp với sự thay đổi của phương thức quản lý doanh nghiệp và môi trường kinh doanh.
Do vậy, nhìn nhận về thành quả hoạt động của một doanh nghiệp luôn có tính lịch sử và phải đặt trong bối cảnh môi trường kinh doanh để xem xét. Hai là: định nghĩa về thành quả luôn gắn với lợi ích của các bên có liên quan (stakeholders). Ở giai đoạn sơ khai, thành quả hoạt động nhìn nhận chủ yếu gắn với lợi ích của chủ doanh nghiệp với trọng tâm đánh giá vào hiệu năng (năng suất) thì trong giai đoạn hiện nay, thành quả hoạt động được nhìn nhận trong quan hệ với lợi ích của khách hàng, nhà cung cấp, người lao động, các cơ quan chính phủ… Sự đa dạng này đặt ra nhiều thách thức trong đo lường thành quả ở các tổ chức, tùy thuộc vào góc độ của người đánh giá. Ba là: Thành quả hoạt động của một doanh nghiệp không chỉ mang đặc tính ‘tĩnh’ (kết quả) mà còn mang đặc tính ‘động’, có tính dẫn dắt để một doanh nghiệp đạt được mục tiêu cuối cùng của mình.
Vấn đề này đặt ra việc đo lường thành quả phải xem xét phải xem xét toàn diện, không chỉ dựa vào mục tiêu cuối cùng của tổ chức mà còn là quá trình để đạt được mục tiêu đó. Đo lường thành quả hoạt động doanh nghiệp Đo lường thành quả là quá trình hiện thực hóa khái niệm về thành quả hoạt động của doanh nghiệp như đã bàn luận ở trên. Do định nghĩa về thành quả hoạt động thay đổi theo thời gian nên cách thức đo lường thành quả cũng luôn biến động và còn tùy thuộc vào ngưởi sử dụng thông tin về thành quả. Đối với người quản lý, đo lường thành quả có thể cung cấp thông tin có giá trị, qua đó sẽ kiểm tra, đánh giá sự tiến bộ của các hoạt động, qua đó cải thiện hoạt động kinh doanh của mình.
Neely và cộng sự (1999), Bititci và cộng sự (1997) cho rằng đo lường thành quả là cốt lõi của quá trình quản lý hiệu quả hoạt động ở các doanh nghiệp. Đo lường thành quả hoạt động theo cách tiếp cận riêng lẻ Cách tiếp cận riêng lẻ được hiểu là sử dụng một hay một số chỉ tiêu đánh giá thành quả nhưng chưa cấu trúc các tiêu chí đó thành một hệ thống. Qua tổng quan các cách thức đo lường thành quả doanh nghiệp ở nhiều nghiên cứu, có thể tổng hợp thành hai nhóm: đo lường bởi các chỉ tiêu tài chính và đo lường bởi các chỉ tiêu phi tài chính. Chỉ tiêu tài chính là chỉ tiêu sử dụng các con số tài chính để đánh giá thành quả, và nguồn số liệu là từ báo cáo tài chính, báo cáo kế toán và các báo cáo có liên quan.
Bản thân dữ liệu kế toán cũng chia thành hai hình thức là đo lường ở khía cạnh kế toán và đo lường ở khía cạnh thị trường. Ở khía cạnh kế toán, thông tin từ báo cáo tài chính và số liệu kế toán là cơ sở để xây dựng các chỉ tiêu đánh giá thành quả của doanh nghiệp. Cách đo lường này có tính truyền thống, gắn với quan điểm về kết quả và hiệu năng của thành quả hoạt động trong một doanh nghiệp.1 minh họa các chỉ tiêu đo lường thành quả dưới góc độ số liệu kế toán. Các chỉ tiêu đo lường thành quả theo khía cạnh kế toán TT Chỉ tiêu đo lường Tác giả Nhóm các chỉ tiêu phản ánh kết quả 1 Doanh thu Chen và cộng sự (2005), Magableh và cộng sự (2011), Đoàn Ngọc Phi Anh (2016).
2 Lợi nhuận Ismail và King (2005), San và Heng (2009), Magableh và cộng sự (2011), Zakaria (2015). 11 luan an Nhóm các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả 4 Tỷ suất sinh lời của tài Abdul Rashid và (2003), Chang và Wong (2004), sản (ROA) Choe (2004), Haniffa và Hudaib (2006), Cho và Kim (2007), Omran và cộng sự (2008), Ehikioya (2009), Ramdani và Witteloostuijn (2010), Fazlzadeh và cộng sự (2011), Guo và Kga (2012), Jantina và cộng sự (2013), Bansal và Sharma (2016), Lin và Fu (2017), 5 Tỷ suất sinh lời của vốn Peng (2004), Abdul Rahman và Haniffa (2005), chủ sở hữu (ROE) Omran và cộng sự (2008), San và Heng (2009), Ibrahim và Samad (2011), Salim và Yadav (2012), Addae và cộng sự (2013), Tran và cộng sự (2015).