ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Vấn đề chung Ngành xây dựng là một ngành nghề có lịch sử phát triển lâu đời và được phổ biến rộng khắp trên toàn cầu. Xu hướng toàn cầu hóa đang đóng vai trò chủ đạo khi các Nhà đầu tư luôn tìm kiếm những môi trường mới nổi để đa dạng hóa các sản phẩm, mở rộng các hoạt động kinh doanh và giảm thiểu tối đa các nhân tố ảnh hưởng tiềm ẩn. Giá trị các sản phẩm xây dựng tại Việt Nam năm 2018 đạt được là 1.356 nghìn tỷ VND, tương đương 24,5% giá trị GDP trong năm và cao gần gấp đôi so với trung bình thế giới là 13,5%. Ngành xây dựng Việt Nam được dự phỏng có tốc độ tăng trưởng trung bình 6,9% /năm trong 10 năm tới, ở mức cao so với trung bình so với thế giới (Nguồn: BMI, GlobalData).
Hình 1: Tốc độ tăng trưởng thị trường xây dựng (Nguồn: BMI, Global Data) Với điều kiện kinh tế tương lai thuận lợi, các tập đoàn lớn thường đầu tư phát triển theo dạng chuỗi nhằm tối ưu hóa lợi nhuận. Ngành xây dựng theo đó cũng phải chú trọng việc nhìn nhận, phân tích đánh giá, kiểm soát các nhân tố, cập nhật thường xuyên các nhân tố ảnh hưởng để đảm bảo sự thành công chung cho dự án. Hiện nay các doanh nghiệp tư nhân đầu tư xây dựng không ngừng phát triển về số lượng và quy mô, thực hiện xây dựng theo chuỗi, tuy nhiên việc nhận dạng, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện đầu tư xây dựng chuỗi các công trình nhỏ lại không được các doanh nghiệp chú trọng, thậm chí còn đối phó rất bị động, chính các tác động nhân tố ảnh hưởng này dẫn đến việc thay đổi nhiều kế hoạch và dự tính ban đầu, làm thay đổi hiệu quả đầu tư của dự án, kéo dài thời gian HVTH: Phạm Lưu Bằng 1 MSHV: 1970698 Luận văn Thạc sĩ GVHD: PGS.TS Lương Đức Long, TS. Trần Nguyễn Ngọc Cương thực hiện và phát sinh chi phí.
Việc chủ động nhận dạng và có các biện pháp ứng phó nhân tố ảnh hưởng trong giai đoạn thực hiện đầu tư xây dựng là vô cùng cần thiết nhằm đảm bảo tính khả thi và hiệu quả cho dự án. Các công trình nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng trong giai đoạn thực hiện đầu tư xây dựng của các dự án chuỗi các công trình nhỏ tại Việt Nam còn rất hạn chế, rất ít những tài tiệu và thông tin đề cập đến vấn đề này mặc dù tác động gây ra là không hề nhỏ. Do đó, đề tài nghiên cứu này mong muốn đóng góp một phần cơ sở dữ liệu nhằm đánh giá các nhân tố ảnh hưởng trong giai đoạn thực hiện đầu tư xây dựng, từ đó đề xuất các ứng phó, xây dựng quy trình làm việc hiệu quả, nâng cao hiệu quả quản lý của doanh nghiệp thi công xây dựng đối với tiến trình sản xuất dự án chuỗi các công trình nhỏ tại Việt Nam.2 Xác định vấn đề nghiên cứu Các câu hỏi đặt ra: 1. Các nhân tố nào gây tác động đến quá trình thực hiện chuỗi dự án nhỏ dẫn đến ảnh hưởng hiệu quả của dự án? 2.
Các nhân tố này tác động như thế nào đến quá trình thực hiện chuỗi dự án nhỏ và có mức độ, thứ hạng, mối liên hệ như thế nào đến dự án? 3. Giải pháp ứng phó nào với từng nhân tố để kiểm soát và quản lý nâng cao hiệu quả của chuỗi dự án nhỏ? Nhận thấy sự cần thiết của đề tài cùng với mong muốn đóng góp những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong quá trình thi công công xây dựng dự án gồm chuỗi các công trình nhỏ tại Việt Nam. Vì thế tác giả quyết định chọn đề tài: “Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quá trình thi công xây dựng dự án gồm chuỗi các công trình nhỏ” để tiến hành nghiên cứu.3 Mục tiên nghiên cứu Xác định các nhân ảnh hưởng đến hiệu quả của dự án gồm chuỗi các công trình nhỏ. Đánh giá mức độ ảnh hưởng và xếp hạng các nhân tố này, đồng thời xác định mối liên hệ giữa chúng với nhau.
Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả trong quá trình thi công xây dựng dự án gồm chuỗi các công trình nhỏ.4 Phạm vi nghiên cứu Thời gian nghiên cứu: Tác giả triển khai nghiên cứu từ tháng 06/2022 – 12/2022. HVTH: Phạm Lưu Bằng 2 MSHV: 1970698 Luận văn Thạc sĩ GVHD: PGS.TS Lương Đức Long, TS. Trần Nguyễn Ngọc Cương Địa điểm nghiên cứu: Dữ liệu được khảo sát từ các doanh nghiệp xây dựng trong phạm vi TP Hồ Chí Minh. Đối tượng nghiên cứu: Là những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quá trình thi công xây dựng dự án gồm chuỗi các công trình nhỏ.
Đối tượng thu thập dữ liệu: những chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực thi công và quản lý dự án công xây dựng dự án gồm chuỗi các công trình nhỏ. Ban quản lý dự án. Nhà thầu chính, nhà thầu phụ. Quan điểm nghiên cứu: Lấy ý kiến của những người có kinh nghiệm để làm quan điểm phân tích.5 Ý nghĩa của nghiên cứu 1.1 Đóng góp về mặt học thuật Xác định được các nhân tố ảnh hưởng trong giai đoạn thực hiện đầu tư xây dựng của doanh nghiệp thi công xây dựng đối với các dự án chuỗi các công trình nhỏ sử dụng vốn tư nhân.
Thiết lập các mối quan hệ để mô phỏng sự ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng có thể xảy ra của các dự án chuỗi các công trình nhỏ.2 Đóng góp về mặt thực tiễn Nghiên cứu cung cấp một cái nhìn tổng quan, toàn diện và đầy đủ những nhân tố ảnh hưởng gặp phải của doanh nghiệp thi công xây dựng trong giai đoạn thực hiện đầu tư xây dựng của dự án xây dựng chuỗi các công trình nhỏ. Nghiên cứu chỉ ra các nhóm nhân tố ảnh hưởng quan trọng, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả thi công xây dựng từ đó đề xuất các biện pháp ứng phó với nhân tố ảnh hưởng và đề xuất các giải pháp phù hợp để cải tiến hiệu quả tiến trình sản xuất dự án chuỗi các công trình nhỏ. HVTH: Phạm Lưu Bằng 3 MSHV: 1970698 Luận văn Thạc sĩ GVHD: PGS.TS Lương Đức Long, TS. Trần Nguyễn Ngọc Cương CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2.1 Các khái niệm, định nghĩa: 2.1 Định nghĩa dự án xây dựng Dự án là các hoạt động với các thông số được xác định chính xác với khung thời gian và các mục đích cho riêng dự án đó (Theo Clark A.
Dự án là tập hợp những hoạt động khác nhau có liên quan đến nhau theo một logic nhằm vào những mục tiêu xác định, được thực hiện bằng những nguồn lực và trong một khoảng thời gian đã được định trước. Dự án là một quá trình gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và kiểm soát, có thời gian bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về yếu tố thời gian, chi phí và nguồn lực. Đặc điểm của 1 dự án: Gồm có: 1. Lịch trình 4.
Phương thức thực hiện Quản lý: 1. Tiết kiệm thời Tài nguyên: gian 1. Chi trả đúng chi 2. Nhân công DỰ ÁN phí 3.
Nhân lực quản lý 4. An toàn Mục tiêu: 1. Lợi ích tạo ra (bản thân, cộng đồng) 2.2 Dự án gồm chuỗi các công trình nhỏ: Tại Việt Nam các tập đoàn đang phát triển theo hướng đầu tư xây dựng các chuỗi nhằm tối ưu hiệu quả sản xuất kinh doanh. Hiện nay có các dạng chuỗi như chuỗi khách sạn tiêu biểu như Mường Thanh, Vingroup, Park Hyatt; Chuỗi trung tâm hội HVTH: Phạm Lưu Bằng 4 MSHV: 1970698 Luận văn Thạc sĩ GVHD: PGS.TS Lương Đức Long, TS.
Trần Nguyễn Ngọc Cương nghị yến tiệc như Adora (hiện có 14 trung tâm hội nghị yến tiệc Adora tại thành phố Hồ Chí Minh); Và nhiều chuỗi nhà hàng, cà phê khác. Các chuỗi đã nêu gồm các nhà hàng, khách sạn có tổng giá trị đầu tư lớn lên đến hàng trăm tỷ đồng và được đầu tư xây dựng theo từng giai đoạn không đồng thời. Dự án gồm chuỗi các công trình nhỏ mà học viên nghiên cứu có mức đầu tư phần xây dựng cho mỗi công trình khoảng năm tỷ đồng, và được triển khai thi công đồng thời, liên tục trong khoảng thời gian chủ đầu tư mong muốn. Đặc trưng dự án chuỗi này là có thiết kế điển hình, kỹ thuật không phức tạp, khá tương đồng tuy nhiên sản phẩm xây dựng là những công trình, nhà cửa xây dựng, sử dụng tại chỗ và phân bố tản mạn ở nhiều tỉnh thành của Việt Nam.
Đặc điểm này làm cho sản xuất xây dựng có tính lưu động cao và thiếu ổn định, phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện địa phương, nơi đặt công trình xây dựng. Chuỗi các công trình nhỏ tổng mức đầu tư cho mỗi công trình khoảng năm tỷ mà học viên nghiên cứu như chuỗi cửa hàng vật liệu xây dựng Hoa Sen Home, chuỗi cửa hàng điện máy xanh, Circle K, Trung Nguyên legend.3 Nhân tố ảnh hưởng Nhân tố ảnh hưởng là cơ hội xảy ra của cái gì đó mà gây ra tác động vào các mục tiêu của dự án [Theo tiêu chuẩn AS/NZS 4360 (1999)]. Nhân tố ảnh hưởng (hay cơ hội) là cái gây ra kết quả bất lợi hoặc thuận lợi cho các mục tiêu của dự án [Theo ICE et al. Nhân tố ảnh hưởng trong dự án xây dựng có thể chia ra làm 02 loại: Nhân tố ảnh hưởng (nhân tố ảnh hưởng gây hại) và Cơ hội (nhân tố ảnh hưởng có ích).
Nhân tố ảnh hưởng là một trường hợp mà trong đó có một xác suất xảy ra một sai lệch bất lợi so với kết quả lý tưởng như kỳ vọng [Theo Vaughan 1997].4 Sự thành công của dự án Thành công của dự án được hiểu là sự đảm bảo mục tiêu đã đề ra về chất lượng, tiến độ, ngân sách, sự hài lòng của các bên liên quan… Tùy theo quan điểm và cách nhìn nhận khác nhau về sự thành công của dự án. Theo Globerson và Zwikael (2002) và Thomsett (2002), dự án được xem là thành công phải thỏa mãn 3 tiêu chí là chi phí, thời gian, yêu cầu kỹ thuật [16]. Pinto và Slevin (1998) cũng cho rằng, dự án thành công phải có thêm tiêu chí thỏa mãn yêu cầu khách hàng và đem lại lợi ích cho một nhóm khách hàng riêng biệt. Theo Chan (1997), dự án thành công phải đạt các tiêu chuẩn sau: Thời gian, chi phí, đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, thoả mãn yêu cầu của các bên tham gia, đáp ứng kỳ vọng người dùng, không ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, đem lại giá trị kinh doanh và an toàn khi thi công.