Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Nhân học với đề tài "Nhà ở của người Tày ở Khu du lịch sinh thái Na Hang, tỉnh Tuyên Quang" (Mã số: 9 31 03 02) do nghiên cứu sinh Trần Thị Ngân Giang thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Thị Song Hà và PGS.TS. Phạm Minh Phúc, bảo vệ năm 2023.
Văn hóa nhà ở là một thành tố cốt lõi của văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của các tộc người thiểu số tại Việt Nam. Trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế từ sau Đổi mới (1986), diện mạo văn hóa của các cộng đồng dân tộc thiểu số tại khu vực miền núi phía Bắc đã có những chuyển biến sâu sắc. Tại tỉnh Tuyên Quang, sau khi Khu du lịch sinh thái Na Hang được thành lập theo Quyết định số 166/QĐ-UBND ngày 09/5/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang và việc điều chỉnh địa giới hành chính theo Nghị định 14/2006/NĐ-CP, Nghị quyết số 07/NQ-CP năm 2011 của Chính phủ thành lập huyện Lâm Bình, không gian văn hóa - sinh thái của người Tày đứng trước bối cảnh phát triển du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XVII (nhiệm kỳ 2020-2025) và Đề án "Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch" giai đoạn 2021-2025 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang đã nhấn mạnh yêu cầu bảo tồn di sản gắn với sinh kế bền vững. Trong đó, ngôi nhà sàn truyền thống của người Tày không chỉ là không gian cư trú, không gian thực hành các phong tục, tập quán, tín ngưỡng gia đình và dòng họ, mà còn trở thành phương tiện vật chất trực tiếp tham gia vào hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch (homestay).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu về nhà ở dân gian hoặc văn hóa người Tày ở các địa bàn khác nhau, nhưng chưa có công trình nào tiếp cận một cách toàn diện dưới góc độ Nhân học về ngôi nhà của người Tày tại Khu du lịch sinh thái Na Hang. Các vấn đề về sự biến đổi kỹ thuật làm nhà, sự sắp xếp lại mặt bằng sinh hoạt khi chuyển đổi một phần công năng sang phục vụ du lịch, cùng mối quan hệ giữa bảo tồn di sản kiến trúc với sinh kế cộng đồng tại địa bàn này chưa được khảo sát có hệ thống.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ bức tranh toàn cảnh về nhà ở (cụ thể là nhà sàn) của người Tày ở Khu du lịch sinh thái Na Hang, tỉnh Tuyên Quang; từ đó làm rõ sự biến đổi về kiến trúc, mặt bằng sinh hoạt và các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng, kinh tế diễn ra trong ngôi nhà; xác định các giá trị văn hóa và đề xuất giải pháp bảo tồn, phát huy, khai thác giá trị của ngôi nhà phục vụ phát triển du lịch cộng đồng bền vững tại địa phương.
Luận án đặt ra và giải quyết 6 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến đề tài để xác định khoảng trống khoa học và khẳng định tính cần thiết của đề tài.
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về nhà ở, kiến trúc nhà ở gắn với đời sống văn hóa của người Tày ở Khu du lịch sinh thái Na Hang, tỉnh Tuyên Quang.
- Khảo sát, miêu tả quy trình, kỹ thuật và phong tục tập quán làm nhà sàn của người Tày ở Khu du lịch sinh thái Na Hang qua các thời kỳ khác nhau.
- Phân tích, làm rõ cấu trúc, cách bố trí mặt bằng sinh hoạt và sự biến đổi trong tổ chức không gian, đời sống văn hóa, tín ngưỡng, cùng các hoạt động dịch vụ du lịch mới xuất hiện trong ngôi nhà sàn.
- Đánh giá những giá trị văn hóa của ngôi nhà sàn người Tày và vai trò của việc khai thác các giá trị này phục vụ phát triển du lịch cộng đồng tại địa bàn.
- Làm rõ các vấn đề đặt ra và đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy và khai thác các giá trị văn hóa ngôi nhà của người Tày ở Khu du lịch sinh thái Na Hang trong thời gian tới.
Đối tượng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Nhà ở, cụ thể tập trung vào nhà sàn truyền thống của người Tày tại Khu du lịch sinh thái Na Hang, tỉnh Tuyên Quang.
- Phạm vi thời gian: Tính từ thời điểm thành lập Khu du lịch sinh thái Na Hang năm 2007 đến năm 2023 (thời điểm hoàn thành luận án).
- Phạm vi không gian: Địa bàn Khu du lịch sinh thái Na Hang thuộc hai huyện Na Hang và Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang.
- Phạm vi nội dung: Các yếu tố phong tục, tập quán, nghi lễ, đời sống sinh hoạt, văn hóa vật chất và tinh thần diễn ra trong ngôi nhà sàn; đặc điểm nguyên vật liệu, cấu trúc, mặt bằng sinh hoạt, kỹ thuật dựng nhà; sự biến đổi không gian và các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ du lịch homestay mới xuất hiện gắn với sinh kế tộc người.
- Địa bàn nghiên cứu cụ thể: Khảo sát chuyên sâu tại thôn Khau Tràng (xã Hồng Thái, huyện Na Hang); thôn Nà Khách / Nà Khá (xã Năng Khả, huyện Na Hang); thôn Nà Tông (xã Thượng Lâm, huyện Lâm Bình). Ngoài ra, nghiên cứu mở rộng khảo sát tại các điểm du lịch homestay thuộc thôn Nà Đồn (xã Thanh Tương), thôn Nà Mạ (xã Khuôn Hà), thôn Nặm Đíp (xã Lăng Can).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án được phân chia thành các nhóm nghiên cứu trong nước và quốc tế theo hai trục nội dung chính: văn hóa nhà ở/nhà sàn truyền thống và phát triển du lịch cộng đồng gắn với văn hóa tộc người.
| Nhóm nghiên cứu | Tác giả và công trình tiêu biểu | Nội dung chính được điểm luận |
|---|---|---|
| Nghiên cứu quốc tế về nhà ở và nhân học kiến trúc | - Lewis Henry Morgan (1881), Houses and House Life of the American Aborigines - Amos Rapoport (1969), House Form and Culture - Emily A. Schultz & Robert H. Lavenda, Anthropology: A Perspective on the Human Condition - Seoul CA, House and Housing: Concept, Architecture - Jeong Si-Seong (1998), Wooden and Pastoral House - Viện Nghiên cứu Văn hóa Dân gian Hàn Quốc & ĐH Phụ nữ Seoul, Vietnam Traditional Folk Houses |
Phân tích nhà ở dưới giác độ văn hóa - nhân học; mối liên hệ giữa hình thái nhà ở, cấu trúc gia đình, tổ chức xã hội và điều kiện môi trường tự nhiên; khảo cứu các dạng thức nhà ở dân gian truyền thống tại châu Á và Việt Nam. |
| Nghiên cứu quốc tế về du lịch cộng đồng và tác động xã hội | - Farrell (1977), The social and economic impact of tourism on pacific communities - Erik Cohen (1979), The impact of tourism on the hill-tribes of northern Thailand - Emmanuel de Kadt (1979), Tourism: Passport to development - John Brohman (1996), New Directions in Tourism for the Third World - Brian Wheeler (1992), Is progressive tourism appropriate? - Russell (2000), Community based tourism - Seba (2000), National Policy and Strategy for Sustainable Tourism - Che-Ha, Mohd-Che, Noriza, Salleh & Ismail (2010) - Tomoko Tsundoda & Samuel Mendlinger (2009) |
Đánh giá tác động hai mặt (tích cực và tiêu cực) của du lịch đối với kinh tế - xã hội, cấu trúc cộng đồng và văn hóa bản địa; các nguyên tắc phát triển du lịch dựa vào cộng đồng (sự tham gia của người dân, chia sẻ lợi ích, bảo tồn văn hóa và môi trường). |
| Nghiên cứu trong nước về nhà ở dân gian và nhà sàn | - Nguyễn Văn Huyên (1934, tái bản 2003), Nhập môn nghiên cứu nhà sàn Đông Nam Á - Nguyễn Khắc Tụng (1974, 1978, 1986, 1994, 1996), Nhà ở cổ truyền các dân tộc Việt Nam, Nhà cửa các dân tộc ở trung du Bắc Bộ Việt Nam - Viện Dân tộc học (1978, 2015 - Vương Xuân Tình chủ biên), Các dân tộc ở Việt Nam - Ngô Đức Thịnh & Chu Thái Sơn (1986) - Chu Thái Sơn (1984) - Phạm Văn Lợi (2010), Lê Duy Đại (2011), Phạm Minh Phúc (2013), Lý Ngọc Thắng & Hoàng Nam (2018) |
Đặt nền móng lý thuyết và phương pháp nghiên cứu nhà ở dân tộc học tại Việt Nam; xác lập khái niệm "mặt bằng sinh hoạt"; phân loại các loại hình nhà sàn, nhà nửa sàn nửa đất, nhà trệt của các nhóm ngôn ngữ và tộc người thiểu số; phân tích sự biến đổi của nhà ở trong bối cảnh nông thôn mới. |
| Nghiên cứu về nhà ở và văn hóa người Tày | - Mai Ngọc Dũng (2013), Nhà sàn truyền thống của người Tày (vùng Đông Bắc Việt Nam) - Hoàng Hoa Toàn (1998), Một số phong tục - tập quán liên quan đến nhà cửa của người Tày, Nùng - Lý Cẩm Tú (2010), Ngôi nhà của người Tày trong khu trưng bày ngoài trời của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam - Nguyễn Văn Đạo (2001), Văn hóa truyền thống một số dân tộc tỉnh Tuyên Quang - Dương Thuấn (2012), Vương Xuân Tình (2014), Phạm Quang Hoan (2015) - Nguyễn Thị Song Hà (2014, 2020, 2021) - Lưu Thị Thu Hoài (2010, 2016), Lương Thị Thu Trang (2021), Phạm Thị Nga (2012), Nguyễn Thị Hoàng Mai (2020), Nguyễn Thị Hảo (2020) |
Khảo cứu kỹ thuật dựng nhà, kết cấu khung gỗ, hoa văn trang trí, phong tục liên quan đến chu kỳ làm nhà và nghi lễ chu kỳ đời người của người Tày; phân tích sự biến đổi văn hóa, tri thức bản địa trong sử dụng đất và thích ứng sinh kế của người Tày tại vùng Đông Bắc và tỉnh Tuyên Quang. |
| Nghiên cứu về du lịch cộng đồng gắn với di sản tại Việt Nam | - Võ Quế (2006), Du lịch cộng đồng: Lí thuyết và vận dụng - Bùi Thị Hải Yến & Nguyễn Đình Hòe (2007), Nghiên cứu các mô hình du lịch dựa vào cộng đồng ở Việt Nam - Tạ Duy Hiển (2009), Bùi Thị Hải Yến (2012), Trần Đức Thanh (2014), Nguyễn Văn Phúc (2021) - Phạm Thị Mộng Hoa & Lưu Thị Mai Loan (2000), Đỗ Trọng Dũng (2011), Phạm Ngọc Thắng (2010), Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2016), Trần Thùy Dương (2016), Đặng Thị Thu (2016), Nguyễn Văn Mạnh (2021), Trịnh Lê Anh (2016), Nguyễn Văn Long, Đinh Thị Thu Thủy |
Luận giải vai trò của cộng đồng địa phương trong chuỗi giá trị du lịch; khai thác bản sắc văn hóa tộc người (nhà ở, ẩm thực, trang phục, lễ hội) làm sản phẩm du lịch; phân tích sự tham gia của phụ nữ và các nhóm yếu thế; đánh giá tiềm năng và rào cản trong phát triển du lịch sinh thái - cộng đồng vùng Tây Bắc và Đông Bắc. |
Vị trí của luận án: Luận án kế thừa các kết quả nghiên cứu về mặt bằng sinh hoạt, kỹ thuật làm nhà và lý luận du lịch cộng đồng từ các học giả tiền bối; đồng thời giải quyết trực tiếp khoảng trống nghiên cứu chuyên sâu về nhà sàn của người Tày tại một địa bàn cụ thể là Khu du lịch sinh thái Na Hang. Luận án đặt ngôi nhà sàn trong mối quan hệ đa chiều: vừa là không gian sinh hoạt - tín ngưỡng tộc người truyền thống, vừa là đối tượng chịu sự tác động mạnh mẽ của tiếp biến văn hóa và chuyển đổi công năng sang hoạt động dịch vụ du lịch cộng đồng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm công cụ
Luận án vận dụng hai lý thuyết nền tảng của Nhân học và Văn hóa học:
- Lý thuyết Giao lưu và Tiếp biến văn hóa (Acculturation): Tiếp biến văn hóa là hiện tượng xảy ra khi các nhóm người có nền văn hóa khác nhau tiếp xúc trực tiếp và liên tục, dẫn đến những biến đổi trong mô hình văn hóa gốc của một hoặc cả hai nhóm (với các luận điểm từ A. L. Kroeber, R. Linton, M. Herskovits, R. Redfield, Dennis O'Neil, Inglehart & Baker). Luận án sử dụng lý thuyết này để phân tích quá trình người Tày tại Na Hang tiếp nhận các yếu tố văn hóa kiến trúc hiện đại (vật liệu mới, cách ngăn buồng phòng, tiện nghi sinh hoạt) và sự điều chỉnh không gian ngôi nhà sàn truyền thống khi tiếp xúc với dòng khách du lịch từ các vùng miền khác nhau.
- Lý thuyết Sinh thái văn hóa (Cultural Ecology): Được khởi xướng bởi Julian Steward (1902–1972) từ thập niên 1950, nhấn mạnh mối quan hệ tương tác, thích nghi giữa con người, môi trường tự nhiên và văn hóa. Luận án vận dụng lý thuyết này để lý giải sự hình thành của kiến trúc nhà sàn của người Tày như một phương thức thích ứng tối ưu với điều kiện tự nhiên vùng lòng chảo, núi cao, sông suối, khí hậu nóng ẩm nhiều mưa gió và nguồn tài nguyên lâm sản phong phú tại vùng rừng núi Na Hang - Lâm Bình.
Các khái niệm công cụ được xác định rõ ràng:
- Nhà, Nhà ở, Nhà sàn: Tiếp cận theo Luật Nhà ở năm 2005, định nghĩa của Chu Thái Sơn (1986) về nhà ở như một phức hệ văn hóa vật chất gắn liền với đời sống con người, và định nghĩa nhà sàn theo Từ điển tiếng Việt.
- Mặt bằng sinh hoạt: Khái niệm do GS. Nguyễn Khắc Tụng xác lập năm 1978, chỉ sự phân bố và tổ chức các khu vực chức năng bên trong ngôi nhà phản ánh cơ cấu gia đình, quan hệ giới và các chuẩn mực văn hóa ứng xử của tộc người.
- Văn hóa tộc người, Di sản văn hóa, Du lịch văn hóa, Du lịch cộng đồng, Du lịch sinh thái: Sử dụng định nghĩa chuẩn xác từ Luật Di sản văn hóa (2001, sửa đổi 2009), Luật Du lịch năm 2017, và các tài liệu chuyên ngành của Nguyễn Văn Lê (2004), Võ Quế (2006).
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, cùng hệ thống các phương pháp chuyên ngành và liên ngành của Dân tộc học / Nhân học:
- Phương pháp thu thập, xử lý tài liệu thứ cấp: Thu thập các báo cáo thống kê, văn kiện quản lý kinh tế - xã hội của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Tuyên Quang, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang, UBND huyện Na Hang, UBND huyện Lâm Bình và Ban Quản lý Khu du lịch sinh thái Na Hang.
- Phương pháp điền dã dân tộc học: Tác giả đã trực tiếp thực hiện 6 đợt điền dã chính thức và các đợt khảo sát bổ sung:
- Tháng 3 và tháng 9 năm 2017 (mỗi đợt 6-8 ngày) tại thôn Khau Tràng (xã Hồng Thái) và thôn Nà Khách / Nà Khá (xã Năng Khả, huyện Na Hang).
- Tháng 3, 4, 9, 11 năm 2018 (mỗi đợt 5-7 ngày) tại thôn Nà Khá (xã Năng Khả) và thôn Nà Tông (xã Thượng Lâm, huyện Lâm Bình).
- Tháng 1 và tháng 6 năm 2020 tại huyện Na Hang và Lâm Bình.
- Các đợt phỏng vấn bổ sung, khảo sát trực tuyến và điền dã thực địa trong các năm 2021, 2022 và tháng 6 năm 2023 sau khi dịch Covid-19 được kiểm soát.
- Kỹ thuật thu thập dữ liệu điền dã: Phỏng vấn sâu cá nhân (với người già, nghệ nhân, chủ hộ làm homestay, cán bộ văn hóa xã/huyện), thảo luận nhóm tập trung, quan sát tham dự (cùng ăn, cùng ở, cùng tham gia các nghi lễ dựng nhà, sinh hoạt gia đình, lễ hội).
- Phương pháp lịch sử và lôgic: Tái hiện tiến trình biến đổi của ngôi nhà sàn qua các mốc thời gian (trước 1986, giai đoạn xây dựng công trình thủy điện Tuyên Quang, sau khi thành lập Khu du lịch sinh thái Na Hang năm 2007 đến nay).
- Phương pháp tham vấn chuyên gia: Trao đổi, phỏng vấn các nhà nghiên cứu văn hóa Tày, chuyên gia nhân học, cán bộ quản lý du lịch tại tỉnh Tuyên Quang.
- Phương pháp liên ngành và so sánh: Kết hợp tri thức Nhân học, Lịch sử học, Văn hóa học; so sánh giữa nhà sàn thuần túy cư trú với nhà sàn làm dịch vụ du lịch homestay, so sánh giữa các thôn bản tại Na Hang và Lâm Bình.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lí thuyết và khái quát về địa bàn nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, xác lập khung lý thuyết (Tiếp biến văn hóa, Sinh thái văn hóa), làm rõ các khái niệm công cụ và phác họa bức tranh toàn cảnh về địa bàn nghiên cứu Khu du lịch sinh thái Na Hang.
Về địa giới hành chính và dân cư:
- Khu du lịch sinh thái Na Hang được thành lập năm 2007 (Quyết định số 166/QĐ-UBND), điều chỉnh địa giới năm 2011 (Nghị quyết 07/NQ-CP) gồm 20 đơn vị hành chính cấp xã/thị trấn (19 xã, 01 thị trấn) thuộc hai huyện Na Hang và Lâm Bình, với tổng diện tích tự nhiên 164.701,86 ha, dân số gần 90.000 người (năm 2021).
- Huyện Na Hang có 44.214 người (người Tày chiếm 57,55%, Dao 23,38%, Kinh 9,47%, H'Mông 5,31%...).
- Huyện Lâm Bình có 44.391 người (người Tày chiếm ~60%, Dao ~25%, H'Mông ~6%...). Người Tày là cư dân bản địa chiếm số lượng đông đảo nhất tại khu vực.
Về điều kiện tự nhiên và sinh thái: Địa bàn có độ cao phổ biến từ 800 - 1.000m, nhiều đỉnh núi cao trên 1.000m; rừng đặc dụng có độ che phủ trên 80% với hệ động thực vật phong phú (các loài thực vật quý như pơ mu, thông tre, thông đỏ, trai, nghiến, đinh, sến; động vật quý như voọc mũi hếch còn trên 100 cá thể). Hồ thủy điện Tuyên Quang có diện tích mặt nước trên 8.000 ha. Cảnh quan nổi bật gồm danh thắng 99 ngọn núi Thượng Lâm, cọc Vài Phạ (cọc buộc trâu của chàng Khổng lồ Tài Ngào), đèo Ái Au, đèo Kéo Nàng, các thác nước như Pác Ban, Nặm Me (15 tầng), Khuổi Nhi, Khuổi Súng, hang Phia Vài, hang Phia Muồn (di tích khảo cổ học có niên đại hàng vạn năm).
Chương 2: Quy trình và cách thức làm nhà của người Tày ở Khu du lịch sinh thái Na Hang
Chương 2 tập trung miêu tả và phân tích quy trình tạo dựng một ngôi nhà sàn truyền thống của người Tày tại Na Hang từ khâu quy hoạch không gian đến các thao tác kỹ thuật và thực hành tín ngưỡng.
- Làng bản và khuôn viên ngôi nhà: Bản của người Tày thường quần tụ dưới chân núi, dựa lưng vào núi đồi (khau), hướng mặt ra cánh đồng, thung lũng lòng chảo hoặc thung lũng sông suối. Khuôn viên ngôi nhà bao gồm: nhà chính (nhà sàn), nhà bếp phụ (ở một số hộ), chuồng trại chăn nuôi gia súc (đặt cách biệt hoặc trước đây để dưới gầm sàn), vườn cây ăn quả và ao cá.
- Nguyên vật liệu xây dựng: Khai thác các loại gỗ tự nhiên có độ bền cao như gỗ nghiến, gỗ trai, gỗ sến, gỗ xoan rừng; tre, nứa, mai, bương làm sàn và vách; lá cọ (cooc cọ) làm vật liệu lợp mái truyền thống. Hiện nay, do các quy định bảo vệ rừng nghiêm ngặt, nguồn gỗ tự nhiên khan hiếm, người dân chuyển sang sử dụng gỗ trồng (xoan, keo, mỡ) kết hợp vật liệu công nghiệp như ngói fibro xi măng, tôn lá, gạch, xi măng.
- Kỹ thuật dựng nhà: Ngôi nhà sàn của người Tày thuộc loại hình nhà khung gỗ chịu lực, liên kết hoàn toàn bằng hệ thống mộng chốt gỗ, không sử dụng đinh sắt. Cấu trúc khung nhà gồm các bộ vì (thường là vì 4 cột hoặc vì 6 cột). Kỹ thuật đo đạc dân gian sử dụng thước tầm, kỹ thuật đục mộng xà, quá giang, kẻ, bẩy đòi hỏi sự tính toán chính xác của người thợ cả (thày then hoặc thợ mộc trưởng bản).
- Hệ thống phong tục, tập quán trong dựng nhà:
- Tục chọn đất và xem hướng nhà: Tránh hướng trực diện vào khe núi đá, hướng nhà thường nhìn về hướng Nam hoặc Đông Nam, đón gió mát và ánh sáng.
- Chọn ngày, giờ tốt: Nhờ thầy phong thủy (thày tào hoặc thày then) xem tuổi của gia chủ để ấn định ngày phạt mộc, ngày dựng cột, cất nóc.
- Lễ phạt mộc: Cúng thần rừng, thần cây trước khi đốn gỗ và bắt đầu đục đẽo.
- Lễ cất nóc (thượng lương): Đặt đòn nóc có bọc vải đỏ, ngũ cốc tượng trưng cho sự sinh sôi, ấm no.
- Lễ vào nhà mới (khửn lườn mái): Thực hiện nghi thức mang ngọn lửa truyền thống, chum nước, gạo, muối vào nhà; làm lễ cúng tẩy uế, lập bàn thờ tổ tiên và mời anh em họ hàng, dân bản đến chung vui (ăn mừng nhà mới).
Chương 3: Bố trí mặt bằng sinh hoạt và một số phong tục, tập quán diễn ra trong ngôi nhà của người Tày
Chương 3 đi sâu phân tích cơ cấu tổ chức không gian bên trong ngôi nhà sàn và các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng, kinh tế diễn ra trong không gian đó.
- Bố trí mặt bằng sinh hoạt:
- Không gian mặt bằng nhà sàn người Tày được phân định rành mạch theo trật tự giới và thứ bậc gia đình: Gian đầu (gian ngoài gần cầu thang chính) là không gian tiếp khách và sinh hoạt của nam giới; các gian bên trong và phía sau là buồng ngủ (phòng) của phụ nữ, con gái và các cặp vợ chồng.
- Gian thờ tổ tiên (bàn thờ) được đặt ở vị trí trang trọng nhất tại gian giữa, tựa lưng vào vách hậu, là nơi tôn nghiêm nhất. Những gia đình có người làm Then, Tào sẽ có thêm bàn thờ Then riêng biệt.
- Bếp lửa (bếp lò hoặc bếp kiềng) đặt ở vị trí trung tâm hoặc gian phụ, là không gian sinh hoạt chung, nơi giữ lửa, sưởi ấm mùa đông và chế biến thức ăn.
- Cầu thang lên nhà sàn thường có số bậc lẻ (5, 7, 9 bậc), thể hiện quan niệm số lẻ là số phát triển, may mắn. Một số nhà có hai cầu thang (cầu thang chính cho khách và nam giới, cầu thang phụ phía sau cho phụ nữ gánh nước, làm bếp).
- Hoạt động sinh hoạt văn hóa và nghi lễ trong ngôi nhà:
- Các nghi lễ vòng đời người: Lễ cúng mụ/đầy tháng cho trẻ nhỏ, lễ cưới hỏi (đón dâu lên sàn, làm lễ gia tiên), lễ mừng thọ (lẩu khoăn), nghi lễ tang ma.
- Nghi lễ chu kỳ mùa vụ: Lễ cúng cơm mới (kin khẩu mái), Tết Nguyên đán, rằm tháng Giêng, rằm tháng Bảy.
- Hoạt động diễn xướng dân gian: Hát Then, đàn Tính, hát Cọi, hát Lượn diễn ra bên bếp lửa hoặc tại gian khách.
- Hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ du lịch mới:
- Tại các thôn làm du lịch cộng đồng như Khau Tràng (xã Hồng Thái), Nà Khá (xã Năng Khả), Nà Tông (xã Thượng Lâm), người Tày đã cải tạo không gian ngôi nhà sàn để làm dịch vụ homestay.
- Gầm sàn trước đây dùng nhốt gia súc nay được dọn sạch, lát gạch hoặc láng xi măng làm khu vực bàn ăn, quầy lễ tân, nơi trưng bày nông sản và đồ lưu niệm.
- Mặt bằng sàn chính được ngăn chia linh hoạt: Một phần giữ làm nơi thờ tự và tiếp khách chung, phần còn lại ngăn thành các buồng đệm cho khách lưu trú hoặc làm phòng nghỉ tập thể có rèm che.
- Khu công trình phụ (nhà tắm, nhà vệ sinh tự hoại) được xây dựng khép kín hoặc tách rời nhưng kết nối thuận tiện, đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước.
Chương 4: Giá trị và bảo tồn, phát huy các giá trị ngôi nhà của người Tày trong đời sống tộc người và phát triển du lịch cộng đồng
Chương 4 tổng kết hệ giá trị của ngôi nhà, phân tích các nhân tố thúc đẩy sự biến đổi và đề xuất các giải pháp cụ thể.
- Các giá trị của ngôi nhà:
- Giá trị thích ứng sinh thái: Kiến trúc sàn cao thoáng mát mùa hè, ấm áp mùa đông, chống ẩm mốc, tránh thú dữ và côn trùng vùng rừng núi.
- Giá trị kiến trúc - mỹ thuật dân gian: Thể hiện tri thức bản địa tinh xảo trong việc ghép mộng gỗ, tỷ lệ khung nhà cân đối, hài hòa với cảnh quan thiên nhiên.
- Giá trị xã hội và cố kết cộng đồng: Ngôi nhà là nơi duy trì trật tự gia đình, dòng họ; việc dựng nhà mới thể hiện tinh thần tương trợ cộng đồng (đổi công).
- Giá trị tâm linh, tín ngưỡng: Nơi hội tụ các biểu tượng thiêng, gắn kết thế giới con người với tổ tiên và thần linh.
- Giá trị kinh tế trong du lịch: Là tài nguyên du lịch nhân văn độc đáo, sản phẩm cốt lõi của loại hình du lịch homestay tại Na Hang.
- Nguyên nhân biến đổi của ngôi nhà sàn:
- Tác động của suy giảm tài nguyên rừng và các chính sách đóng cửa rừng tự nhiên, khiến vật liệu gỗ truyền thống trở nên khan hiếm và đắt đỏ.
- Ảnh hưởng của kinh tế thị trường, quá trình đô thị hóa nông thôn và nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống, tiện nghi sinh hoạt của người dân.
- Tiếp xúc, giao lưu văn hóa với người Kinh và khách du lịch từ các đô thị.
- Yêu cầu chuyển đổi công năng để kinh doanh du lịch cộng đồng đòi hỏi mở rộng diện tích, cải tạo công trình vệ sinh, chia nhỏ không gian lưu trú.
- Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị:
- Tăng cường quy hoạch không gian làng bản truyền thống gắn với bảo vệ cảnh quan sinh thái tại Na Hang và Lâm Bình.
- Xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ tài chính, nguyên vật liệu thay thế để người dân duy trì, tôn tạo nhà sàn gỗ truyền thống, hạn chế tình trạng "bê tông hóa" hoặc phá bỏ nhà sàn để xây nhà ống.
- Hoàn thiện tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ homestay gắn với bảo tồn cấu trúc nhà sàn: Đảm bảo vệ sinh môi trường, an toàn phòng cháy chữa cháy, nhưng giữ nguyên vẹn gian thờ và bộ khung kết cấu truyền thống.
- Đào tạo, nâng cao kỹ năng làm du lịch, vệ sinh an toàn thực phẩm, ngoại ngữ và thuyết minh văn hóa cho người dân bản địa; tích hợp nghệ thuật hát Then, đàn Tính và ẩm thực Tày vào trải nghiệm lưu trú nhà sàn.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án bổ sung nguồn tư liệu thực địa và hệ thống luận điểm khoa học vào chuyên ngành Nhân học/Dân tộc học về sự biến đổi của văn hóa vật chất (nhà ở) của các tộc người thiểu số tại vùng Đông Bắc Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
- Kiểm chứng và làm rõ sự vận dụng của Lý thuyết Tiếp biến văn hóa (Acculturation) và Lý thuyết Sinh thái văn hóa (Cultural Ecology) trong việc giải thích cơ chế thích ứng, biến đổi và tiếp nhận văn hóa mới của tộc người Tày khi chuyển đổi công năng ngôi nhà truyền thống sang phục vụ du lịch cộng đồng.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Luận án cung cấp bức tranh toàn cảnh, chân thực và cập nhật về hiện trạng kiến trúc, kỹ thuật dựng nhà, mặt bằng sinh hoạt, các phong tục tập quán và sự biến đổi của ngôi nhà sàn người Tày tại Khu du lịch sinh thái Na Hang (thuộc hai huyện Na Hang và Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang).
- Chỉ ra những thách thức thực tế trong việc dung hòa giữa việc bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống cốt lõi (không gian thiêng, gian thờ, cấu trúc khung gỗ) với yêu cầu thương mại hóa dịch vụ lưu trú homestay phục vụ du khách.
- Cung cấp luận cứ khoa học và hệ thống khuyến nghị thực tiễn cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh Tuyên Quang, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang, UBND các huyện Na Hang và Lâm Bình trong việc xây dựng, điều chỉnh chính sách bảo tồn làng bản truyền thống gắn với quy hoạch phát triển du lịch sinh thái bền vững.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực địa của luận án tập trung chủ yếu tại Khu du lịch sinh thái Na Hang (hai huyện Na Hang và Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang), chưa có điều kiện mở rộng so sánh chuyên sâu với các địa bàn người Tày sinh sống ở các tỉnh lân cận thuộc vùng Đông Bắc (như Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Hà Giang) hoặc người Tày di cư ở Tây Nguyên. Ngoài ra, tiến độ điền dã trong giai đoạn 2020-2021 chịu ảnh hưởng gián đoạn nhất định do các biện pháp phòng chống dịch Covid-19 tại địa phương.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo cứu so sánh liên vùng về sự biến đổi của nhà sàn người Tày dưới tác động của các mô hình kinh tế du lịch khác nhau; nghiên cứu định lượng sâu hơn về mức độ đóng góp kinh tế của dịch vụ homestay nhà sàn đối với cơ cấu thu nhập và sinh kế bền vững của hộ gia đình người Tày.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên các chuyên ngành Nhân học, Dân tộc học, Văn hóa học, Việt Nam học, Du lịch học và Kiến trúc dân gian.
- Cán bộ quản lý nhà nước tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang, Phòng Văn hóa - Thông tin các huyện miền núi, Ban Quản lý Khu du lịch sinh thái Na Hang trong việc hoạch định chính sách bảo tồn di sản văn hóa vật thể và phi vật thể.
- Các nhà quy hoạch du lịch, doanh nghiệp lữ hành, các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ phát triển cộng đồng và các hộ gia đình người Tày tham gia kinh doanh dịch vụ du lịch homestay tại địa phương.
- Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống dữ liệu điền dã dân tộc học về quy trình và phong tục dựng nhà ở Chương 2; phân tích cấu trúc mặt bằng sinh hoạt và các nghi lễ gia đình ở Chương 3; hệ thống giải pháp tổ chức homestay gắn với bảo tồn di sản ở Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Khung thời gian và phạm vi không gian nghiên cứu của luận án được giới hạn như thế nào?
Luận án giới hạn phạm vi thời gian từ năm 2007 (khi Khu du lịch sinh thái Na Hang được thành lập theo Quyết định số 166/QĐ-UBND của UBND tỉnh Tuyên Quang) đến năm 2023 (thời điểm hoàn thành luận án). Phạm vi không gian thuộc Khu du lịch sinh thái Na Hang, bao gồm 20 xã và thị trấn thuộc hai huyện Na Hang và Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang.
2. Luận án vận dụng những lý thuyết nhân học nào làm khung phân tích chính?
Luận án sử dụng hai lý thuyết nhân học căn bản: Lý thuyết Giao lưu và Tiếp biến văn hóa (Acculturation) nhằm giải thích sự thay đổi về cấu trúc, vật liệu và công năng ngôi nhà khi người Tày tiếp xúc với văn hóa hiện đại và hoạt động du lịch; và Lý thuyết Sinh thái văn hóa (Cultural Ecology của Julian Steward) nhằm luận giải kiến trúc nhà sàn như một sự thích nghi tối ưu của con người với môi trường tự nhiên vùng rừng núi thung lũng Na Hang.
3. Mặt bằng sinh hoạt của ngôi nhà sàn người Tày truyền thống được tổ chức theo những nguyên tắc nào?
Mặt bằng sinh hoạt được tổ chức chặt chẽ theo trật tự giới và quan niệm thiêng - tục: Gian đầu gần cầu thang là không gian tiếp khách và sinh hoạt của nam giới; gian giữa đặt bàn thờ tổ tiên (và bàn thờ Then nếu có) là nơi tôn nghiêm nhất; các gian trong và phía sau dành cho buồng ngủ của phụ nữ, con gái và các cặp vợ chồng; bếp lửa trung tâm là nơi giữ lửa, nấu nướng và cố kết sinh hoạt gia đình; cầu thang lên sàn luôn có số bậc lẻ.
4. Việc chuyển đổi sang kinh doanh dịch vụ homestay đã làm thay đổi ngôi nhà sàn người Tày tại Na Hang ra sao?
Gầm sàn nhà trước đây dùng nhốt gia súc đã được dọn sạch, lát gạch hoặc láng xi măng để làm khu vực ăn uống, tiếp tân; mặt bằng sàn chính được ngăn chia thêm các buồng ngủ có rèm hoặc vách ngăn nhẹ phục vụ khách lưu trú; các công trình phụ (nhà tắm, nhà vệ sinh tự hoại) được xây dựng khép kín hoặc kết nối liền kề nhằm đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh của du khách.
5. Điền dã dân tộc học của tác giả được triển khai tại các địa bàn cụ thể nào?
Tác giả đã triển khai 6 đợt điền dã chính thức từ năm 2017 đến 2020 và các đợt khảo sát bổ sung đến tháng 6 năm 2023, tập trung phỏng vấn sâu, quan sát tham dự tại thôn Khau Tràng (xã Hồng Thái, huyện Na Hang), thôn Nà Khá / Nà Khách (xã Năng Khả, huyện Na Hang), thôn Nà Tông (xã Thượng Lâm, huyện Lâm Bình), cùng các điểm du lịch homestay tại Nà Đồn (xã Thanh Tương), Nà Mạ (xã Khuôn Hà) và Nặm Đíp (xã Lăng Can).
Kết luận
Luận án tiến sĩ Nhân học của Trần Thị Ngân Giang là một công trình nghiên cứu công phu, hệ thống về nhà ở của người Tày tại Khu du lịch sinh thái Na Hang, tỉnh Tuyên Quang. Tác giả đã kết hợp chặt chẽ giữa cơ sở lý luận tiếp biến văn hóa, sinh thái văn hóa với nguồn tư liệu điền dã dân tộc học dày dặn để tái hiện sinh động bức tranh kiến trúc, mặt bằng sinh hoạt, các phong tục nghi lễ và sự chuyển đổi chức năng của ngôi nhà sàn trong bối cảnh phát triển du lịch cộng đồng. Công trình có giá trị khoa học và thực tiễn thiết thực, cung cấp cơ sở dữ liệu và giải pháp quan trọng cho công tác bảo tồn di sản văn hóa dân tộc thiểu số gắn với phát triển sinh kế bền vững tại địa phương.