Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỰ THỂ HIỆN NGUYÊN TẮC NHÂN ĐẠO TRONG CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI PHẠM TỘI DƯỚI 18 TUỔI 1. Nhân đạo - nguyên tắc cơ bản của chính sách pháp luật hình sự đối với người phạm tội dưới 18 tuổi Nhân đạo là đạo làm người, đạo làm người thể hiện ở lòng thương yêu, với ý thức tôn trọng các giá trị danh dự, nhân phẩm của con người, không làm đau đớn con người. Vậy nguyên tắc nhân đạo là cách thể chế hóa quan điểm chính sách vì con người của nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quan điểm bao dung coi giáo dục thuyết phục nhân cách trong con người là chủ yếu. Trong lịch sử phát triển của xã hội nói chung, con người được coi là giá trị cao nhất.
Mục đích phát triển xã hội, cố gắng đưa xã hội tiến lên một tầm cao mới cũng chỉ vì lợi ích của con người. Một xã hội muốn phát triển tất cả mọi lĩnh vực kinh tế - chính trị - văn hóa xã hội thì phải được sự đồng thuận của nhân dân. Chính vì thế chủ nghĩa Mác-Lenin tuyên bố yêu cầu thực hiện tính nhân đạo đối với con người, tất cả vì con người, vì lợi ích con người. Vì nhân đạo là phạm trù đạo đức thừa nhận và tôn trọng danh dự, nhân phẩm con người.
Nên việt nam chúng ta một đất nước xã hội chủ nghĩa luôn luôn lấy tính nhân đạo của chủ nghĩa Mác-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nòng cốt, đề cao vai trò của con người. thiết lập mối quan hệ nhân từ trong đời sống cá nhân cũng như trong đời sống xã hội. Đặc biệt hơn nữa là tính nhân đạo được đưa vào hệ thống pháp luật nói chung và trong bộ luật hình sự Việt Nam nói riêng. Tư tưởng nhân đạo trong chính sách pháp luật nước ta được coi là nền tảng cho nội dung hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Được thể hiện ở chỗ không phải con người tồn tại vì pháp luật mà 7 ngược lại tính mạng, danh dự, nhân phẩm, lợi ích của con người được khẳng định, được đảm bảo bởi pháp luật. hay nói cách khác là pháp luật được tồn tại vì con người. Trong việc điều chỉnh và bảo vệ các quan hệ xã hội, nhân đạo ảnh hưởng đến các phương pháp điều chỉnh pháp luật, ảnh hưởng đến các hoạt động của các chủ thể tham gia các quan hệ hình sự, vì vậy, nhân đạo trở thành nguyên tắc của hệ thống pháp luật nói chung và của pháp luật hình sự nói riêng. Pháp luật hình sự Việt Nam phản ánh ý thức pháp luật các quan niệm đạo đức của dân tộc ta, có mục đích, nội dung nhân đạo sâu sắc và được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp rất nhân đạo.
Trước hết, trong LHS Việt Nam, nguyên tắc nhân đạo luôn được thể hiện rõ nét trong các chính sách hình sự của Nhà nước, trong các quy định của BLHS. Mối quan hệ giữa nhân đạo và pháp luật Nhân đạo chẳng những có mối liên hệ mật thiết, đan xen và xâm nhập lẫn nhau với các giá trị xã hội khác như công bằng, bình đẳng, dân chủ… vốn được coi là những yếu tố không thể thiếu của nhân đạo mà còn có mối liên hệ mật thiết với pháp luật. Pháp luật được hiểu là hệ thống các quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, được quy định bởi cơ sở kinh tế - xã hội, là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm tạo ra trật tự ổn định trong xã hội. Vai trò của pháp luật thể hiện ở các chức năng như chức năng điều chỉnh, chức năng giao tiếp và chức năng bảo vệ các quan hệ xã hội.
Cùng là những giá trị xã hội, nhân đạo và pháp luật có mối liên hệ mật thiết với nhau. Mối liên hệ đó được lý giải như sau: Thứ nhất, quan hệ sản xuất là nhân tố chi phối cơ bản, nên cả nhân đạo lẫn pháp luật đều có nội dung vật chất do phương thức sản xuất tương ứng quyết định. Chính đặc điểm này cho phép lý giải mối quan hệ bản chất giữa nhân đạo và pháp luật và lý giải vì sao mà pháp luật trước đây không có tính 8 nhân đạo thực sự và vì sao mà pháp luật hiện nay có bản chất nhân đạo thực sự và sâu sắc. Vấn đề là ở chỗ, pháp luật trước đây được xây dựng trên nền tảng của cơ sở kinh tế hạ tầng thấp kém, do vậy tính nhân đạo được thể hiện trong pháp luật cũng thấp hơn ngày nay.
Thứ hai, tồn tại trong một xã hội nhất định với tính cách là những nhân tố quan trọng điều chỉnh các quan hệ xã hội, cả nhân đạo và pháp luật đều gắn liền với lợi ích mà trước hết là lợi ích của giai cấp thống trị về kinh tế và chính trị trong xã hội đó. Khi mà lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội phù hợp với lợi ích của các giai cấp và tầng lớp khác trong xã hội, đặc biệt là phù hợp với lợi ích của đông đảo nhân dân lao động, thì cả nhân đạo lẫn pháp luật mới trở thành những đại lượng chung cho những trường hợp riêng cụ thể, mới trở thành chuẩn mực chung cho mọi thành viên trong xã hội. Vì vậy, để xác lập nên hệ tư tưởng nhân đạo, giai cấp thống trị chẳng những phải biểu hiện lợi ích của mình thành lợi ích chung của toàn xã hội mà còn phải gắn cho hệ tư tưởng của mình một hình thức phổ biến. Chính đặc điểm này cho phép lý giải vì sao mà trong những điều kiện xã hội hiện nay, nhân đạo và pháp luật là những phương tiện hữu hiệu điều chỉnh các quan hệ xã hội vốn rất đa dạng và phức tạp.
Nhìn từ một góc độ khác, bởi là những bộ phận cấu thành của hệ tư tưởng thống trị, cả nhân đạo lẫn pháp luật đều có vai trò tác động mạnh mẽ đến nhận thức, tư duy, tình cảm và hành vi của mọi người trong xã hội. Để thực hiện được đầy đủ vai trò đó, cả nhân đạo lẫn pháp luật phải được dựa trên nền tảng tư tưởng coi con người là giá trị cao nhất, coi mục đích của tiến bộ xã hội là ngày càng thoả mãn nhiều hơn nhu cầu và lợi ích chính đáng của con người. Thứ hai, tồn tại trong một xã hội nhất định với tính cách là những nhân tố quan trọng điều chỉnh các quan hệ xã hội, cả nhân đạo và pháp luật đều gắn liền với lợi ích mà trước hết là lợi ích của giai cấp thống trị về kinh tế và chính trị trong xã hội đó.Cũng như những cặp phạm 9 trù: thiện – ác, tốt - xấu, công bằng - bất công bằng, bình đẳng - bất bình đẳng, nhân đạo và mặt đối lập của nó là vô nhân đạo, từ lâu đã trở thành những tiêu chí đánh giá hành vi của con người. Khi Nhà nước và pháp luật ra đời, những tiêu chí đó còn được dùng để đánh giá nội dung và bản chất của pháp luật mà nhà nước ban hành.
Pháp luật là những quy tắc xử sự đã được chuẩn hoá cho toàn xã hội. Trong khi đó, ngoài phạm vi đã được nâng lên thành luật, nhân đạo còn tồn tại dưới những hình thức khác, vì vậy nó còn khả năng hỗ trợ cho pháp luật trong những trường hợp hay là lĩnh vực không thể hay không cần thiết phải điều chỉnh. Chính sự cùng tồn tại của nhân đạo và pháp luật có tác dụng hỗ trợ cho nhau làm cho các quan hệ xã hội vốn rất đa dạng và phức tạp phát triển lành mạnh, có trật tự, có tính người theo hướng và mục đã xác định trước. Thứ tư, pháp luật là phương tiện ghi nhận và thực hiện nhân đạo có hiệu quả nhất.
Pháp luật không thể là hình thức tồn tại duy nhất của nhân đạo. Ngoài pháp luật ra, nhân đạo còn được thể hiện thông qua các hình thức khác như chính trị, đạo đức, tập quán, tôn giáo, văn hoá,… Mỗi hình thức tồn tại của nhân đạo có đặc trưng và phương thức tác động của mình tới các quan hệ xã hội trong sự hỗ trợ lẫn nhau của chúng. Bởi hình thức thể hiện đa dạng (các nguyên tắc pháp lý, hệ thống các quy phạm pháp luật thực định, án lệ,… ), bởi phạm vi thể hiện rộng (qua hoạt động xây dựng pháp luật, qua cơ chế điều chỉnh pháp luật, qua ý thức pháp luật của các chủ thể,…) và bởi những thuộc tính của mình (tính điển hình phổ biến, tính chặt chẽ về hình thức, tính được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế Nhà nước), pháp luật luôn là phương tiện ghi nhận và thực hiện nhân đạo có hiệu quả nhất. Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, nhiều giá trị nhân đạo đã mang tính toàn cầu bắt buộc chung.
Điều này được thể hiện trong các điều ước quốc tế phổ biến về nhân quyền. Những giá trị nhân đạo đó đã tác động sâu sắc tới pháp luật quốc gia, 10 đặc biệt quốc gia có chuẩn mực nhân đạo thấp hơn chuẩn mực chung. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn có những giá trị nhân đạo ở các quốc gia còn khác nhau và thậm chí có điểm trái ngược nhau. Điều này chỉ có thể giải thích được khi chúng ta thấy được rằng cơ sở kinh tế hạ tầng mà cốt lõi quyết định là lực lượng sản xuất của các quốc gia còn rất chênh lệch nhau.
Do vậy, chúng ta có thể hiểu được tại sao có quốc gia đã xoá bỏ hoàn toàn hình phạt tử hình, có quốc gia vẫn duy trì nó. Tuy nhiên, chuẩn mực nhân đạo của mỗi quốc gia còn tuỳ thuộc vào tổng thể các yếu tố khác, song cơ sở kinh tế hạ tầng mà cốt lõi là lực lượng sản xuất của quốc gia đó là yếu tố quyết định. Nhân đạo – nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam Trước hết, nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa được thể hiện Bộ luật Hình sự năm 2015 đó là: “Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra. Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, đã hối cải, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục.