Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 là nhiệm vụ trọng tâm của toàn bộ hệ thống tư pháp hình sự. Số liệu thống kê từ Tòa án nhân dân tối cao cho thấy, trong giai đoạn 05 năm từ 2012 đến 2016, các Tòa án trên phạm vi toàn quốc đã thụ lý và xét xử hơn 150 vụ án liên quan đến các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong thời gian qua bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng khi ranh giới giữa hành vi phòng vệ hợp pháp và hành vi phạm tội vẫn còn mơ hồ, dẫn đến tỷ lệ hủy án, sửa án tại một số địa phương chiếm tới khoảng 12% đến 15% tổng số vụ việc tranh chấp về quyền tự vệ.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ bản chất pháp lý, các tiêu chí đánh giá tính hợp pháp của chế định phòng vệ chính đáng, đồng thời chỉ ra những vướng mắc trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử đối với hai tội danh quy định tại Điều 96 và Điều 106 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Luận văn xác định mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích đối chiếu 04 đạo luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử (năm 1985, 1999, 2009 và 2015), khảo sát thực tiễn xét xử giai đoạn 2012 - 2016 trên phạm vi 63 tỉnh thành, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp và áp dụng pháp luật đồng bộ. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, góp phần hạ thấp tỷ lệ sai sót tư pháp, giảm thiểu nguy cơ làm oan người vô tội cũng như không bỏ lọt tội phạm, bảo đảm tối đa quyền bất khả xâm phạm về thân thể của mỗi cá nhân.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng nền tảng của học thuyết quyền tự vệ tự nhiên và học thuyết trách nhiệm hình sự trong khoa học luật hình sự hiện đại. Theo đó, quyền phòng vệ là quyền tự nhiên gắn liền với mỗi cá nhân khi tính mạng, sức khỏe, tài sản hoặc các lợi ích hợp pháp khác bị đe dọa xâm hại trực tiếp. Nghiên cứu sử dụng mô hình cấu trúc pháp lý bốn điều kiện cấu thành hành vi phòng vệ chính đáng, bao gồm: tính trái pháp luật của hành vi xâm hại; tính hiện hữu đang diễn ra của hành vi tấn công; đối tượng bị tác động phải chính là người có hành vi xâm hại; và tính cần thiết của sự chống trả.

Khung lý thuyết tập trung làm rõ 04 khái niệm cốt lõi:

  1. Phòng vệ chính đáng: Hành vi hợp pháp của một người nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của bản thân, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, tổ chức bằng cách gây thiệt hại cần thiết cho người đang thực hiện hành vi xâm hại.
  2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng: Hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.
  3. Loại trừ trách nhiệm hình sự: Chế định pháp lý khẳng định hành vi tuy mang dấu hiệu khách quan của tội phạm nhưng không bị coi là tội phạm do có tính chất có ích hoặc được pháp luật cho phép.
  4. Tình thế cấp thiết: Tình huống loại trừ trách nhiệm hình sự khi một người gây ra thiệt hại nhỏ hơn để ngăn ngừa một thiệt hại lớn hơn đang thực tế đe dọa các quan hệ xã hội được bảo vệ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ, các văn bản hướng dẫn xét xử của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, cùng hơn 90 tài liệu tham khảo trong nước và quốc tế. Dữ liệu thực chứng được trích xuất từ hồ sơ thống kê xét xử toàn quốc trong giai đoạn 05 năm (2012 - 2016).

Cỡ mẫu nghiên cứu thực tế bao gồm 180 bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm điển hình liên quan đến hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích kết hợp chọn mẫu phân tầng theo 03 vùng miền Bắc, Trung, Nam nhằm bảo đảm tính đại diện địa lý và tính điển hình của các vụ án phức tạp. Luận văn lựa chọn phương pháp phân tích luật học so sánh kết hợp phân tích định lượng thống kê và điều tra án điển hình. Việc lựa chọn các phương pháp này xuất phát từ yêu cầu phải mổ xẻ sự khác biệt về mặt câu chữ giữa các thuật ngữ pháp lý ("tương xứng" và "cần thiết"), đồng thời định lượng hóa bức tranh tư pháp thực tế để phát hiện những khiếm khuyết trong nhận thức áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý dữ liệu được tiến hành trong mốc thời gian từ năm 2012 đến hết năm 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu thực tiễn xét xử toàn quốc giai đoạn 2012 - 2016 đối với các tội danh liên quan đến vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng cho thấy 04 phát hiện nổi bật:

Thứ nhất, cơ cấu tội danh có sự mất cân đối rõ rệt. Trong tổng số các vụ án bị truy cứu trách nhiệm hình sự do vượt quá giới hạn, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (theo Điều 106 Bộ luật Hình sự năm 1999) chiếm tỷ lệ áp đảo với 68,4%, trong khi tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 96 Bộ luật Hình sự năm 1999) chiếm 31,6%.

Thứ hai, đặc điểm nhân thân của người phòng vệ cho thấy tính bột phát cao. Nhóm bị cáo trong độ tuổi thanh niên từ 18 đến 30 tuổi chiếm tới 62,5% tổng số trường hợp bị xét xử; trong đó, tỷ lệ nam giới chiếm 94,2%. Đa số các trường hợp vượt quá giới hạn xuất phát từ trạng thái tinh thần bị kích động mạnh khi bị tấn công bất ngờ, khiến họ mất khả năng cân nhắc chính xác mức độ chống trả.

Thứ ba, tỷ lệ không thống nhất quan điểm giữa các cơ quan tiến hành tố tụng ở mức đáng báo động. Khoảng 15,8% số vụ án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc bị cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm do cấp sơ thẩm nhầm lẫn giữa phòng vệ chính đáng với tội phạm cố ý thông thường, hoặc giữa vượt quá giới hạn phòng vệ với tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.

Thứ tư, sự lạc hậu của hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành. Hơn 85% các thẩm phán và kiểm sát viên được khảo sát thừa nhận vẫn phải áp dụng tinh thần của Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ban hành từ năm 1986 để giải thích khái niệm "cần thiết" trong các bộ luật hình sự sau này, tạo ra sự tùy tiện và thiếu nhất quán giữa các địa phương.

Thảo luận kết quả

Các kết quả nghiên cứu trên phản ánh nguyên nhân cốt lõi xuất phát từ sự thiếu hụt các tiêu chí định lượng trong luật thực định. Trong trạng thái tâm lý hoảng loạn khi bị xâm phạm tính mạng, người phòng vệ không thể có đủ thời gian và sự tỉnh táo để lựa chọn công cụ chống trả có tính năng tương đương với kẻ tấn công.

Dữ liệu thống kê về tình hình xét xử có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua một biểu đồ cột thể hiện diễn biến số vụ án thụ lý từ năm 2012 đến năm 2016, kết hợp cùng một biểu đồ tròn phản ánh cơ cấu phân bổ tỷ lệ các nhóm độ tuổi của bị cáo. Việc biểu diễn trực quan này giúp làm nổi bật thực trạng người có hành vi chống trả thường là nạn nhân ban đầu của các vụ bạo lực đường phố.

So sánh với pháp luật hình sự quốc tế như Bộ luật Hình sự Liên bang Nga, Thụy Điển hay Nhật Bản, các quốc gia này đều quy định rõ nguyên tắc không coi là vượt quá giới hạn nếu hành vi chống trả diễn ra trước sự tấn công bất ngờ hoặc có nguy cơ đe dọa trực tiếp đến tính mạng. Việc Bộ luật Hình sự năm 2015 của Việt Nam chuyển chế định phòng vệ chính đáng sang Chương "Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự" và xếp thứ tự bảo vệ quyền cá nhân lên trước lợi ích công là bước tiến nhân văn to lớn, phù hợp với tinh thần Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đưa ra 04 nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần khẩn trương ban hành Nghị quyết mới thay thế Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP năm 1986. Văn bản này phải hướng dẫn chi tiết tiêu chí xác định tính "cần thiết", tính "hiện hữu" và phương pháp đánh giá tương quan lực lượng trong Điều 22 Bộ luật Hình sự năm 2015. Mục tiêu đặt ra là giảm 100% các sai lệch do nhận thức chủ quan trong thời hạn từ năm 2018 đến năm 2020.
  2. Bổ sung quy định về phòng vệ đương nhiên: Quốc hội và Ban soạn thảo luật cần nghiên cứu bổ sung vào Bộ luật Hình sự quy định về các trường hợp được quyền gây thiệt hại không giới hạn cho kẻ tấn công (phòng vệ tuyệt đối) khi đối mặt với các hành vi xâm phạm tính mạng đặc biệt nghiêm trọng như giết người, hiếp dâm, cướp tài sản có sử dụng vũ khí nguy hiểm. Lộ trình hoàn thiện đề xuất trong giai đoạn 2020 - 2025.
  3. Chuẩn hóa quy trình đánh giá tâm lý học tư pháp: Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Công an cần phối hợp xây dựng khung quy chế điều tra đặc thù đối với các vụ việc tự vệ, bắt buộc phải giám định trạng thái tâm lý hoảng loạn của người phòng vệ tại thời điểm xảy ra sự việc. Chỉ tiêu là bảo đảm 100% các vụ án có dấu hiệu tự vệ đều được xem xét toàn diện yếu tố hoàn cảnh và nhân thân người tấn công.
  4. Tăng cường tập huấn nghiệp vụ và tuyên truyền pháp luật: Học viện Tòa án và Trường Đại học Kiểm sát cần đưa chuyên đề xét xử các vụ án phòng vệ chính đáng vào chương trình bồi dưỡng bắt buộc hàng năm cho hơn 5.000 thẩm phán, kiểm sát viên trên cả nước. Đồng thời, Bộ Tư pháp cần đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật tại 63 tỉnh thành nhằm nâng cao ý thức đấu tranh phòng chống tội phạm của quần chúng nhân dân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng chuyên sâu cho 04 nhóm đối tượng:

  1. Thẩm phán, Kiểm sát viên và Điều tra viên: Giúp nắm vững cơ sở lý luận và kỹ năng đánh giá chứng cứ hiện trường, phân định ranh giới giữa phòng vệ chính đáng với các tội phạm quy định tại Điều 126 và Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 2015, phục vụ trực tiếp cho việc ra quyết định khởi tố hoặc đình chỉ vụ án chính xác.
  2. Luật sư và Người bào chữa: Cung cấp hệ thống luận cứ pháp lý và thực tiễn vững chắc để xây dựng phương án bào chữa hiệu quả cho các thân chủ trong những vụ án xô xát bột phát có yếu tố tự vệ chính đáng.
  3. Giảng viên, Học viên cao học và Nghiên cứu sinh ngành Luật: Tài liệu tham khảo có giá trị cao với hệ thống số liệu thực chứng giai đoạn 2012 - 2016, hỗ trợ đắc lực cho hoạt động giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu về các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự.
  4. Cơ quan tham mưu lập pháp và chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giúp Quốc hội và Bộ Tư pháp rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hình sự bảo đảm tương thích với các điều ước quốc tế về quyền con người.

Câu hỏi thường gặp

Hành vi phòng vệ chính đáng khác tình thế cấp thiết ở những điểm mấu chốt nào?
Phòng vệ chính đáng là việc gây thiệt hại trực tiếp cho chính người đang có hành vi xâm hại nhằm đẩy lùi sự tấn công. Ngược lại, trong tình thế cấp thiết, người hành động phải gây thiệt hại cho một lợi ích hợp pháp của người thứ ba vô tội để triệt tiêu một nguy cơ nguy hiểm khác, đồng thời thiệt hại gây ra bắt buộc phải nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

Pháp luật có bắt buộc người phòng vệ phải dùng công cụ tương đương với kẻ tấn công không?
Không. Pháp luật không đòi hỏi sự tương xứng máy móc về mặt cơ học giữa hung khí của hai bên. Mức độ cần thiết của hành vi chống trả được đánh giá dựa trên tổng hòa các yếu tố: tính chất nguy hiểm của sự tấn công, tương quan lực lượng, không gian, thời gian và trạng thái tâm lý bất ngờ, hoảng loạn của người phòng vệ tại hiện trường.

Khi nào một hành vi chống trả bị coi là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng?
Hành vi chống trả bị coi là vượt quá giới hạn khi có sự chênh lệch rõ ràng quá mức cần thiết so với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại. Ví dụ, trong thực tế, khi kẻ tấn công đã bị tước vũ khí, đã bỏ chạy hoặc đã mất khả năng gây hại nhưng người phòng vệ vẫn tiếp tục truy đuổi và tấn công gây chết người.

Công dân có được thực hiện quyền phòng vệ chống lại người thi hành công vụ không?
Về nguyên tắc, hành vi thi hành công vụ hợp pháp của cơ quan chức năng không phải là hành vi trái pháp luật nên không làm phát sinh quyền phòng vệ. Tuy nhiên, nếu người thi hành công vụ có hành vi lạm quyền, trái pháp luật nghiêm trọng và xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của công dân thì người dân vẫn có quyền tự vệ để bảo vệ tính mạng.

Bộ luật Hình sự năm 2015 có những điểm mới cốt lõi nào về chế định phòng vệ chính đáng?
Bộ luật Hình sự năm 2015 đã chính thức đưa phòng vệ chính đáng vào Chương "Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự", đồng thời thay đổi thứ tự ưu tiên bằng việc đặt lợi ích chính đáng của cá nhân lên trước lợi ích của Nhà nước và tổ chức, phản ánh sự đề cao quyền con người theo Hiến pháp năm 2013.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam qua 04 giai đoạn từ năm 1945 đến nay, khẳng định bản chất pháp lý của phòng vệ chính đáng là trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự.
  • Khảo sát thực tiễn 180 bản án giai đoạn 2012 - 2016 trên toàn quốc đã chỉ ra tỷ lệ tội danh do vượt quá giới hạn theo Điều 106 chiếm tới 68,4% và nhóm đối tượng thanh niên chiếm 62,5%.
  • Nghiên cứu đã phân định rõ ràng các tiêu chí khoa học của tính "cần thiết", giải quyết triệt để sự nhầm lẫn tồn tại nhiều năm giữa khái niệm "tương xứng" và "cần thiết" trong thực tiễn xét xử.
  • Đóng góp quan trọng của luận văn là hệ thống 04 giải pháp lập pháp và hướng dẫn áp dụng nhằm hoàn thiện quy định của Điều 22 Bộ luật Hình sự năm 2015 trong giai đoạn chuyển tiếp 2017 - 2020.
  • Các cơ quan quản lý tư pháp và cơ sở đào tạo luật cần khẩn trương nghiên cứu, ứng dụng những kết quả và đề xuất của luận văn vào thực tiễn xét xử và giảng dạy chuyên ngành.