Chương 1. Một số vấn đề lý luận về phòng vệ chính đáng trong luật hình sự Việt Nam. Quy định về phòng vệ chính đáng trong BLHS Việt Nam năm 1999, sửa đổi năm 2009 và BLHS một số nước trên thế giới. Thực tiễn áp dụng quy định về phòng vệ chính đáng và những kiến nghị, giải pháp.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT PHÁP LÝ CỦA PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm phòng vệ chính đáng Thực tiễn cho thấy, đứng trước một hành vi nguy hiểm cho xã hội đang gây ra các thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe của một người khác, để bảo vệ các lợi ích chung của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức đòi hỏi phải có biện pháp ngăn chặn, xử lý và người thực hiện hành vi đó phải được động viên, khuyến khích và bảo đảm cho họ không phải chịu sự xử lý, trừng phạt của pháp luật. Do đó, phòng vệ chính đáng quy định và đặt ra trong luật xuất phát từ ý nghĩa đó.
Phòng vệ chính đáng là một trường hợp loại trừ TNHS. Phòng vệ chính đáng cũng được coi là một căn cứ hợp pháp của hành vi gây thiệt hại [22, tr.46] và được coi là hành vi có ích, được Nhà nước và xã hội khuyến khích nhằm chủ động đấu tranh phòng, chống tội phạm. Do đó, để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho cán bộ có trách nhiệm trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và mỗi người dân tự bảo vệ quyền, tự do và lợi ích chính đáng của mình và của người khác, cũng như của xã hội, pháp luật hình sự bất kỳ quốc gia nào (trong đó có Việt Nam) cũng quy định về vấn đề phòng vệ chính đáng. Bởi vì, một mặt để khuyến khích, động viên công dân hãy làm việc có ích, có lợi, điều tốt cho xã hội, nhưng mặt khác, đó cũng chính là góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm, thực hiện quyền dân chủ của công dân, mở rộng hơn nữa là quyền con người.
Phòng vệ chính đáng đã được nghiên cứu và đề cập từ rất sớm trong 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khoa học luật hình sự Việt Nam và ngay cả khi BLHS năm 1985 được ban hành (BLHS đầu tiên) đều đã ghi nhận về mặt pháp lý hình sự chế định phòng vệ chính đáng và được hoàn thiện hơn trong những lần pháp điển hóa luật hình sự sau đó (BLHS năm 1999, sửa đổi năm 2009 và BLHS năm 2015). Nghiên cứu lịch sử lập pháp hình sự cho thấy, trước khi ban hành BLHS đầu tiên (năm 1985), để bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo đảm trật tự xã hội chung, Nhà nước đã ban hành nhiều Luật, Sắc luật, văn bản tổng kết như: Luật số 103/SL ngày 20/5/1957 [55, tr.23]; Bản tổng kết số 452/SL ngày 10/6/1970 [55, tr.24-25] của TANDTC cũng đề cập đến quyền tự do thân thể, trong đó cho phép người thi hành công vụ dùng vũ khí và việc giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Về sau, TANDTC đã tổng kết thực tiễn xét xử và ban hành Chỉ thị số 07/CT ngày 22/12/1983 về việc xét xử các hành xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong khi thi hành công vụ. Đến khi pháp điển hóa lần thứ nhất, khoản 1 Điều 13 BLHS năm 1985 đã ghi nhận khái niệm phòng vệ chính đáng trên cơ sở các văn bản đã nêu như sau: “Phòng vệ chính đáng là hành vi vì bảo vệ lợi ích của nhà nước, của tập thể, bảo vệ lợi ích chính đáng của mình, của người khác mà chống trả lại một cách tương xứng người có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.
Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm”. Sau đó, tại Phần II Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC “Về hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS năm 1985” đã đề cập đến những vấn đề về phòng vệ chính đáng (nội dung, điều kiện, vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng…) [18, tr. Như vậy, khoản 1 Điều 13 BLHS năm 1985 và sau đó khoản 1 Điều 15 BLHS năm 1999 chỉ ghi nhận phòng vệ chính đáng như là một định nghĩa pháp lý mà chưa chỉ rõ với những điều kiện gì (mà khoa học luật hình sự thì 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đều thống nhất) thì một hành vi được coi là phòng vệ chính đáng trên những cơ sở chung (mặc dù nội dung của điều luật cũng đã thể hiện). Về sau, trong BLHS năm 1999, xét về mặt ngôn ngữ thì trong khái niệm phòng vệ chính đáng của BLHS năm 1999 đã thay đổi một số cụm từ so với khái niệm phòng vệ chính đáng trong BLHS năm 1985, như thay cụm từ “của tập thể” bằng “của tổ chức” hay “bảo vệ lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác” bằng cụm từ “bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác”.
Đặc biệt, các nhà làm luật nước ta trong BLHS năm 1999 đã thay thế cụm từ “tương xứng” bằng cụm từ “cần thiết”. Bởi vì, nếu sử dụng cụm từ “tương xứng” dễ dẫn đến cách hiểu không đúng, máy móc là: “Người phạm tội sử dụng công cụ, phương tiện, phương pháp gì, thì người phòng vệ cũng phải sử dụng công cụ, phương tiện, phương pháp tương tự, hoặc có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người có hành vi xâm hại phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại mà người xâm hại gây ra hoặc đe dọa gây ra. cũng như chưa xuất phát từ cái nhìn của người trong cuộc. Như vậy, xét về mặt hình thức, phòng vệ chính đáng đã có đủ các dấu hiệu của tội phạm nhưng các nhà làm luật lại không coi phòng vệ chính đáng là tội phạm.
Thiệt hại do người phòng vệ gây ra đối với người có hành vi xâm hại trong phòng vệ chính đáng chính là nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể (của cơ quan, tổ chức)… phù hợp với lợi ích yêu cầu chung của toàn xã hội. Do đó, phòng vệ chính đáng không những không bị coi là tội phạm mà còn được Nhà nước và xã hội động viên, khuyến khích thực hiện vì đây là hành vi có ích, có lợi cho xã hội. Trong khoa học luật hình sự Việt Nam và nhiều nước trên thế giới về cơ bản đều thống nhất nội hàm khái niệm này, đồng thời đều căn cứ vào nội dung của Điều luật về phòng vệ chính đáng để định nghĩa, giải thích, chỉ khác nhau dùng thuật ngữ “tương xứng” hay “cần thiết” trong nội hàm khái niệm, 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tên gọi và hệ thống (danh mục) các trường hợp nào (trong đó có phòng vệ chính đáng). Tuy nhiên, cũng có một số quan điểm nêu như sau: Trước hết, GS.
Lê Văn Cảm sử dụng cụm từ “tương xứng” giữa hành vi phòng vệ và hành vi tấn công và định nghĩa khoa học: Phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả của người phòng vệ để gây thiệt hại cho người đang có hành vi xâm hại đến các lợi ích hợp pháp của mình hoặc của những người khác, cũng như của xã hội hay của Nhà nước, nếu hành vi chống trả tương xứng với hành vi xâm hại [9, tr. Kiều Đình Thụ quan niệm ngắn gọn: Phòng vệ chính đáng thực chất là sự chống trả một cách hợp pháp đối với người thực hiện hành vi xâm hại những lợi ích được pháp luật bảo vệ bằng cách gây thiệt hại cho chính người đó [62, tr. Trịnh Tiến Việt sau khi phân tích các điều kiện của phòng vệ chính đáng đã nêu định nghĩa như sau: Phòng vệ chính đáng là hành vi của một người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm hại các lợi ích nói trên, nên được coi là trường hợp không phải là tội phạm và người đó không phải chịu TNHS [71, tr. Ngoài ra, TS.
Nguyễn Đức Mai định nghĩa nhưng nhấn mạnh ý nghĩa của chế định phòng vệ chính đáng đã viết: Phòng vệ chính đáng là một chế định được quy định trong BLHS hiện hành nhằm khuyến khích mọi công dân tích cực tham gia đấu tranh chống lại những hành vi xâm hại các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ; ngăn chặn hoặc hạn chế các hậu quả nguy 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiểm cho xã hội mà sự xâm hại này có thể gây ra, nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác [37, tr. Học viên cho rằng, trên cơ sở các quan điểm khoa học đã nêu, đồng thời từ ý nghĩa chính trị - xã hội và pháp lý, để loại trừ tâm lý thờ ơ, bàng quang trước những hành vi phạm tội, ngại phiền toái, liên lụy, tâm lý tiêu cực, thụ động làm giảm đáng kể hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như phải thể hiện sự đánh giá của người ngoài cuộc và người trong cuộc, do đó, cần đưa bổ sung cả hai cụm từ “tương xứng” và “cần thiết” trong nội hàm khái niệm về phòng vệ chính đáng mới đầy đủ, cũng như không để sự đánh giá tùy tiện, vô căn cứ của các cơ quan và người áp dụng pháp luật. Bên cạnh đó, trong BLHS năm 2015 lại có thay đổi so với BLHS năm 1999, sửa đổi năm 2009 là đã đặt việc bảo vệ lợi ích của chính đáng của mình, của người khác lên trước lợi ích của Nhà nước, tổ chức cho phù hợp với thực tiễn xét xử và yêu cầu đề cao quyền tự do và an ninh cá nhân con người [72, tr.135], bảo vệ quyền con người theo quy định của Hiến pháp năm 2013, cũng như đã xếp đây là trường hợp được loại trừ TNHS.