Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) đang gia tăng nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu cùng với quá trình đô thị hóa, lối sống ít vận động, chế độ dinh dưỡng không hợp lý và sự gia tăng của tình trạng béo phì. Theo số liệu ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2021, toàn cầu có khoảng 422 triệu người mắc bệnh ĐTĐ, phần lớn tập trung tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, đồng thời mỗi năm ghi nhận khoảng 1,6 triệu ca tử vong do căn bệnh này. Số liệu từ Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF) ghi nhận năm 2020 tại Việt Nam có 3.779.600 người mắc ĐTĐ, chiếm tỷ lệ 5,7% ở người trưởng thành; đến năm 2021, tỷ lệ này tăng lên 6,0% với gánh nặng chi phí y tế ước tính 418,1 USD/người.

Bệnh lý tim mạch được xác định là nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế và tử vong ở người bệnh ĐTĐ. ĐTĐ type 2 làm tăng nguy cơ tử vong do các biến cố tim mạch từ 2 đến 4 lần khi so sánh với nhóm đối tượng cùng độ tuổi và giới tính. Thống kê của WHO năm 2019 cho thấy có 17,9 triệu trường hợp tử vong do bệnh lý tim mạch, chiếm 32% tổng số ca tử vong trên toàn thế giới, trong đó 85% trường hợp do nhồi máu cơ tim và đột quỵ, với 3/4 số ca tử vong xảy ra tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình.

Trước thực tế đó, việc phân tầng nguy cơ tim mạch 10 năm đóng vai trò quyết định trong việc xây dựng kế hoạch điều trị sớm, dự phòng tiên phát và làm giảm nhẹ biến chứng. Hai công cụ thường được áp dụng gồm thang điểm Framingham (xây dựng từ nghiên cứu thuần tập theo dõi dọc quy mô lớn tại Hoa Kỳ) và thang điểm WHO/ISH (thiết kế đơn giản, chi phí thấp, phù hợp với các quốc gia đang phát triển). Tuy nhiên, tại Việt Nam trước đây chưa có công trình nào đánh giá đồng thời và so sánh sự tương đồng giữa hai thang điểm này trên cùng một nhóm bệnh nhân ĐTĐ type 2.

Đề tài đặt ra hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả được nguy cơ bệnh tim mạch theo thang điểm Framingham và WHO/ISH ở các bệnh nhân ĐTĐ type 2.
  2. Đánh giá bước đầu được sự đồng thuận của 2 thang điểm Framingham và WHO/ISH ở các bệnh nhân ĐTĐ type 2.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân được chẩn đoán xác định mắc ĐTĐ type 2 điều trị nội trú, không có tiền sử bệnh lý tim mạch trước đó.
  • Không gian nghiên cứu: Khoa Nội tổng hợp, Bệnh viện E, Hà Nội.
  • Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 06 năm 2020 đến tháng 04 năm 2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở lý thuyết, định nghĩa bệnh lý và tiêu chuẩn chuyên môn hiện hành:

  • Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ type 2: Dựa theo Hướng dẫn của Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA 2019), xác định khi người bệnh thỏa mãn một trong các tiêu chí: Glucose huyết tương lúc đói ≥ 7,0 mmol/L (≥ 126 mg/dL) sau nhịn ăn ít nhất 8 giờ; hoặc Glucose huyết tương sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g ≥ 11,1 mmol/L (≥ 200 mg/dL); hoặc Glucose huyết tương bất kỳ ≥ 11,1 mmol/L kèm triệu chứng lâm sàng tăng đường huyết kinh điển.
  • Tiêu chuẩn kiểm soát lipid máu: Dựa theo khuyến cáo của Hội Tim mạch và Nghiên cứu Đái tháo đường Châu Âu (ESC-EASD 2013), phân loại đạt mục tiêu khi: Cholesterol toàn phần < 4,5 mmol/L; Triglyceride < 2,2 mmol/L; LDL-C < 2,5 mmol/L; HDL-C ≥ 1,0 mmol/L.
  • Phân loại chỉ số khối cơ thể (BMI): Tính theo công thức khối lượng (kg) chia bình phương chiều cao (m), áp dụng ngưỡng phân loại thừa cân - béo phì cho người châu Á.
  • Đánh giá chức năng thận: Tính mức lọc cầu thận ước tính (MLCT - eGFR) theo công thức MDRD hiệu chỉnh (Modification of Diet in Renal Disease).
  • Cơ chế tổn thương mạch máu: Tình trạng tăng đường huyết mạn tính, kháng insulin, thừa acid béo tự do và tăng huyết áp làm gia tăng stress oxy hóa, tăng nồng độ CRP, thúc đẩy phản ứng viêm, suy giảm sản xuất nitric oxide (NO), gia tăng biểu hiện phân tử bám dính, hoạt hóa tiểu cầu và hình thành mảng vữa xơ mạch máu.

Phương pháp đánh giá nguy cơ tim mạch 10 năm:

  • Thang điểm Framingham (phiên bản hiệu chỉnh theo D’Agostino 2008 và NCEP-ATP III): Tính tổng điểm dựa trên 6 yếu tố gồm tuổi, giới tính, huyết áp tâm thu (HATT - chia theo nhóm có hoặc không điều trị thuốc hạ áp), cholesterol toàn phần, HDL-C, tình trạng hút thuốc lá và chẩn đoán ĐTĐ. Phân tầng nguy cơ 10 năm thành 4 mức: Thấp (< 10%), Trung bình (10% đến < 20%), Cao (20% đến 30%), Rất cao (> 30%).
  • Thang điểm WHO/ISH (phiên bản 2012): Áp dụng biểu đồ dành cho khu vực Tây Thái Bình Dương B (WPR B - bao gồm Việt Nam). Đánh giá dựa trên 5 thông số: tuổi, giới tính, HATT, cholesterol toàn phần, hút thuốc lá và có mắc ĐTĐ. Phân tầng thành 4 mức nguy cơ: Thấp (< 10%), Trung bình (10% đến < 20%), Cao (20% đến < 30%), Rất cao (> 30%).

Thiết kế và phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
  • Cỡ mẫu: Chọn mẫu thuận tiện gồm n = 90 bệnh nhân điều trị tại Khoa Nội tổng hợp - Bệnh viện E.
  • Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân chẩn đoán xác định ĐTĐ type 2 (theo ADA 2019), có đầy đủ dữ liệu lâm sàng và cận lâm sàng theo quy định, đồng ý tham gia nghiên cứu.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân không đủ thông tin đánh giá; bệnh nhân đã có tiền sử mắc bệnh tim mạch trước đó; bệnh nhân đang có các bệnh lý gây ảnh hưởng cân nặng (phù trong hội chứng thận hư, suy thận); bệnh nhân không đồng ý tham gia.
  • Phương pháp xét nghiệm cận lâm sàng: Định lượng glucose máu bằng phương pháp hexokinase; creatinin máu theo phương pháp Jaffe; triglyceride, HDL-C, LDL-C, cholesterol toàn phần bằng phương pháp so màu enzym; HbA1c bằng phương pháp sắc ký lỏng áp lực cao ái lực nguyên tố Bo (HPLC).
  • Xử lý số liệu: Quản lý dữ liệu bằng Microsoft Excel 2016, phân tích thống kê bằng phần mềm SPSS phiên bản 20. Kiểm định phân phối chuẩn bằng test Kolmogorov-Smirnov. Sử dụng Independent t-test và Oneway ANOVA cho các biến phân phối chuẩn; Mann-Whitney U test và Kruskal-Wallis test cho các biến phân phối không chuẩn; Chi-square test (χ2) hoặc Fisher's exact test cho biến tỷ lệ. Đánh giá sự đồng thuận giữa 2 thang điểm bằng hệ số Cohen's Kappa (κ).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về bệnh đái tháo đường, các biến chứng tim mạch và phương pháp lượng giá nguy cơ tim mạch:

  • Khái quát bệnh đái tháo đường type 2: Trình bày định nghĩa của ADA, cơ chế bệnh sinh liên quan đến đề kháng insulin và suy giảm chức năng tế bào beta tụy. Trình bày số liệu dịch tễ học quốc tế và Việt Nam. Đi sâu vào các biến chứng cấp tính (nhiễm toan ceton, hội chứng tăng áp lực thẩm thấu, hạ đường huyết) và biến chứng mạn tính (biến chứng vi mạch gồm võng mạc, thận, thần kinh; biến chứng mạch máu lớn gồm bệnh mạch vành, đột quỵ não, bệnh động mạch ngoại biên).
  • Bệnh tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ: Trình bày cơ chế xơ vữa mạch máu do stress oxy hóa, rối loạn chức năng nội mô, suy giảm nitric oxide, tăng các phân tử bám dính và các chất trung gian gây viêm (CRP, TNF, IL-1, IL-6).
  • Các yếu tố nguy cơ tim mạch: Tổng thuật vai trò của tuổi, rối loạn các thành phần lipid máu (cholesterol toàn phần, triglyceride, LDL-C, HDL-C, lipoprotein A), chỉ số khối cơ thể (BMI), tăng huyết áp, hút thuốc lá và kiểm soát đường huyết (glucose đói, HbA1c).
  • Giới thiệu 2 thang điểm ước tính nguy cơ tim mạch 10 năm:
    • Thang điểm Framingham: Lược sử nghiên cứu Framingham Heart Study từ năm 1948 qua các thế hệ con cháu và thuần tập Omni, sự phát triển mô hình tính điểm của NCEP-ATP III (2001) và D’Agostino (2008), các ưu điểm và hạn chế khi ngoại suy trên các chủng tộc ngoài da trắng.
    • Thang điểm WHO/ISH: Quá trình ban hành hướng dẫn đánh giá nguy cơ tim mạch của WHO năm 2007 và bản cập nhật năm 2012 theo từng phân vùng địa lý, cấu trúc biểu đồ đơn giản dựa trên các biến số cơ bản không đòi hỏi xét nghiệm phức tạp.
  • Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước: Điểm luận các nghiên cứu sử dụng thang điểm Framingham (Park và Kim tại Hàn Quốc, Goh tại Úc, Đỗ Thị Quỳnh, Vũ Vân Nga, Trần Thừa Nguyên tại Việt Nam) và thang điểm WHO/ISH (Deori tại Ấn Độ, Otgontuya tại Campuchia - Malaysia - Mông Cổ, Nguyễn Văn Trí, Hồ Anh Hiền tại Việt Nam).

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả tường minh phương pháp triển khai nghiên cứu:

  • Thiết kế nghiên cứu cắt ngang thực hiện tại Khoa Nội tổng hợp - Bệnh viện E từ tháng 06/2020 đến tháng 04/2021 trên cỡ mẫu n = 90 bệnh nhân.
  • Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân và loại trừ nghiêm ngặt, loại bỏ các bệnh nhân đã có biến cố tim mạch lâm sàng từ trước hoặc bệnh lý suy thận nặng gây nhiễu chỉ số nhân trắc.
  • Hệ thống hóa các biến số lâm sàng (tuổi, giới, BMI, HATT, tiền sử hút thuốc, thời gian phát hiện ĐTĐ) và cận lâm sàng (glucose, HbA1c, bilan lipid, creatinin, MLCT theo MDRD).
  • Quy trình tra bảng điểm Framingham chi tiết theo từng bảng điểm nam và nữ, đối chiếu điểm số với xác suất biến cố tim mạch 10 năm; quy trình tra biểu đồ ô màu phân tầng nguy cơ của WHO/ISH vùng WPR B cho đối tượng có ĐTĐ.
  • Quy trình thu thập, bảo mật hồ sơ bệnh án và các thuật toán thống kê y học xử lý biến liên tục, biến định danh và hệ số Kappa trên phần mềm SPSS 20.

Chương 3: Kết quả

Chương 3 trình bày các kết quả thu được từ 90 bệnh nhân nghiên cứu:

  1. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng:
Đặc điểm chung Giá trị trung bình hoặc Tỷ lệ Phân bố theo giới tính Giá trị p
Tuổi trung bình (năm) 65,16 ± 8,31 Nam: 63,82 ± 8,69; Nữ: 66,13 ± 7,97 0,177
Tỷ lệ tuổi ≥ 60 78,89% (71 BN) Nam: 36,62%; Nữ: 63,38% 0,038
BMI trung bình (kg/m²) 23,20 ± 3,17 Nam: 22,81 ± 2,89; Nữ: 23,48 ± 3,37 0,333
HATT trung bình (mmHg) 125,67 ± 13,97 Nam: 126,18 ± 11,71; Nữ: 125,29 ± 15,51 0,365
Tiền sử hút thuốc lá 7,78% (7 BN) Nam: 100% (7/7 BN); Nữ: 0% 0,002
Thời gian mắc ĐTĐ ≥ 10 năm 38,10% (32 BN) Nam: 37,50%; Nữ: 62,50% 0,663
Glucose đói (mmol/L) 12,75 ± 5,63 Glucose đói ≥ 7,2 mmol/L chiếm 90,00% (81 BN) 0,367
HbA1c trung bình (%) 10,60 ± 2,37 HbA1c > 7,0% chiếm 92,22% (83 BN) 0,954
Cholesterol toàn phần (mmol/L) 5,35 ± 1,61 Cholesterol ≥ 4,5 mmol/L chiếm 70,00% (63 BN) 0,154
Triglyceride trung bình (mmol/L) 3,24 ± 3,66 Triglyceride ≥ 2,2 mmol/L chiếm 53,33% (48 BN) 0,974
LDL-C trung bình (mmol/L) 2,58 ± 1,03 LDL-C ≥ 2,5 mmol/L chiếm 55,56% (50 BN) 0,180
HDL-C trung bình (mmol/L) 1,14 ± 0,50 Nam: 1,02 ± 0,40; Nữ: 1,23 ± 0,55 0,004
Creatinin huyết thanh (µmol/L) 78,38 ± 27,08 Nam: 87,40 ± 22,98; Nữ: 72,01 ± 28,14 < 0,001
MLCT giảm < 60 mL/phút/1,73m² 14,44% (13 BN) Nam: 46,15%; Nữ: 53,85% 0,756
  1. Tỷ lệ phân tầng nguy cơ tim mạch 10 năm theo hai thang điểm:
Mức độ nguy cơ Thang điểm Framingham (n = 90) Thang điểm WHO/ISH (n = 90)
Thấp (< 10%) 7,78% (7 BN) 21,11% (19 BN)
Trung bình (10% - < 20%) 22,22% (20 BN) 34,45% (31 BN)
Cao (20% - 30%) 24,44% (22 BN) 14,44% (13 BN)
Rất cao (> 30%) 45,56% (41 BN) 30,00% (27 BN)
  • Theo thang điểm Framingham, nhóm nguy cơ cao và rất cao chiếm ưu thế áp đảo với tổng tỷ lệ 70,0%. Nam giới chiếm đa số trong phân nhóm nguy cơ rất cao (63,41% so với 36,59% ở nữ; p < 0,001).
  • Theo thang điểm WHO/ISH, nhóm nguy cơ trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất (34,45%), tiếp đến là nhóm rất cao (30,00%), nhóm thấp (21,11%) và thấp nhất là nhóm cao (14,44%). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về phân tầng nguy cơ theo giới tính ở thang WHO/ISH (p = 0,948).
  1. Mối liên quan với các yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng:
  • Đối với thang điểm Framingham: Phân tầng nguy cơ có liên quan có ý nghĩa thống kê với tuổi (p < 0,001; nhóm ≥ 60 tuổi có p = 0,005), giới tính (p < 0,001), mức HATT (p < 0,001), nồng độ creatinin (p = 0,001), nồng độ triglyceride (tăng dần theo mức nguy cơ, p = 0,012) và nồng độ HDL-C (giảm dần theo mức nguy cơ, p = 0,022).
  • Đối với thang điểm WHO/ISH: Phân tầng nguy cơ liên quan có ý nghĩa thống kê với tuổi (p < 0,001), HATT (p < 0,001), thời gian phát hiện ĐTĐ (nhóm ≥ 10 năm có nguy cơ cao hơn, p = 0,011), cholesterol toàn phần (p < 0,001), triglyceride (p = 0,048) và LDL-C (p = 0,024).
  1. Sự đồng thuận giữa hai thang điểm:
  • Kết quả đối chiếu phân tầng nguy cơ giữa Framingham và WHO/ISH qua bảng chéo ghi nhận: chỉ có 6 trường hợp đồng thuận ở mức nguy cơ thấp, 9 trường hợp ở mức trung bình, 3 trường hợp ở mức cao và 23 trường hợp ở mức rất cao. Tổng số ca có cùng mức đánh giá là 41/90 trường hợp.
  • Phân tích hệ số tương đồng cho thấy chỉ số Kappa đạt κ = 0,259 (p < 0,001). Mức độ đồng thuận giữa hai thang điểm được xếp loại ở mức kém.

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 tập trung biện luận và so sánh các kết quả nghiên cứu với y văn:

  • Về đặc điểm mẫu nghiên cứu: Bệnh nhân nghiên cứu có tuổi trung bình cao (65,16 tuổi), nhóm tuổi ≥ 60 chiếm 78,89%, tương đồng với nghiên cứu của Trần Thị Trúc Linh (65,6 tuổi) nhưng cao hơn nghiên cứu của Trần Thừa Nguyên (57,62 tuổi). BMI trung bình ở ngưỡng 23,20 kg/m² thuộc nhóm thừa cân theo tiêu chuẩn cho người châu Á. Tình trạng kiểm soát đường huyết rất kém với 92,22% bệnh nhân có HbA1c > 7,0% và 90,00% có glucose đói ≥ 7,2 mmol/L (chỉ 7,78% đạt HbA1c < 7,0%, thấp hơn đáng kể so với mức 21,8% của Nguyễn Nguyên Trang). Tương tự, tỷ lệ kiểm soát mỡ máu không đạt mục tiêu chiếm tỷ lệ cao ở các chỉ số cholesterol (70%), LDL-C (55,56%) và triglyceride (53,33%).
  • Phân tích các yếu tố liên quan: Tuổi tác và HATT là hai yếu tố có mối liên quan mạnh mẽ nhất đến mức độ tăng nguy cơ tim mạch ở cả 2 thang điểm. Thang điểm Framingham tính điểm tuổi cho nam giới cao hơn hẳn nữ giới, giải thích việc nam giới chiếm đa số ở nhóm nguy cơ rất cao (63,41%). Bilan lipid máu phản ánh rõ rệt sự khác biệt: WHO/ISH chỉ tích hợp cholesterol toàn phần nên nguy cơ tăng tuyến tính theo cholesterol, trong khi Framingham tích hợp thêm HDL-C. Ngoài ra, chỉ số triglyceride có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các phân tầng nguy cơ ở cả hai thang điểm (p = 0,012 ở Framingham và p = 0,048 ở WHO/ISH), cho thấy vai trò quan trọng của triglyceride trong sinh bệnh học mạch máu ở bệnh nhân ĐTĐ type 2.
  • Biện giải sự đồng thuận kém giữa hai thang điểm (κ = 0,259):
    • Tác giả chỉ ra rằng thang điểm Framingham có xu hướng ước tính nguy cơ cao hơn rõ rệt (70,0% nguy cơ cao và rất cao), phù hợp với kết quả của Mettananda tại Sri Lanka (nhóm nguy cơ cao theo Framingham là 36,7% so với 9,5% của WHO/ISH, κ = 0,306) và Lingkan tại Bangladesh (κ = 0,13). Nguyên nhân do Framingham được xây dựng từ quần thể người da trắng tại Mỹ vào thời kỳ bệnh tim mạch có tỷ lệ lưu hành cao, gán trọng số rất nặng cho biến số tuổi và giới tính nam, dẫn đến hiện tượng ước tính quá mức nguy cơ tim mạch ở người châu Á.
    • Ngược lại, thang điểm WHO/ISH được xây dựng từ mô hình toán học ngoại suy dịch tễ khu vực, không dựa trên nghiên cứu đoàn hệ theo dõi dọc thực tế, không đưa các chỉ số như HDL-C hay tình trạng dùng thuốc hạ áp/hạ lipid máu vào mô hình, dẫn tới nguy cơ đánh giá thấp nguy cơ ở những người bệnh cao tuổi có huyết áp và cholesterol được kiểm soát bằng thuốc.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại các kết quả định lượng cụ thể và những đóng góp học thuật, thực tiễn:

  • Cung cấp bức tranh toàn diện về phân tầng nguy cơ tim mạch 10 năm tại Khoa Nội tổng hợp - Bệnh viện E: Theo thang điểm Framingham, tỷ lệ bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ rất cao là 45,56%, nhóm cao là 24,44% (tổng cộng 70,0% thuộc nhóm nguy cơ cao trở lên). Theo thang điểm WHO/ISH, tỷ lệ nguy cơ trung bình chiếm cao nhất với 34,45%, tiếp theo là nguy cơ rất cao 30,00%, nguy cơ thấp 21,11% và nguy cơ cao 14,44%.
  • Đưa ra bằng chứng thực nghiệm về sự khác biệt giữa hai công cụ: Xác định mức độ đồng thuận giữa thang điểm Framingham và WHO/ISH trên cùng một mẫu bệnh nhân ĐTĐ type 2 là kém (hệ số Kappa κ = 0,259; p < 0,001).
  • Làm rõ thực trạng kiểm soát bệnh lý nền: Tỷ lệ bệnh nhân đạt mục tiêu kiểm soát đường huyết rất thấp (chỉ 7,78% có HbA1c ≤ 7,0% và 10,0% có glucose đói < 7,2 mmol/L); tỷ lệ không đạt mục tiêu lipid máu ở mức cao (70,0% với cholesterol và 55,56% với LDL-C).
  • Khuyến nghị thực tiễn: Tác giả đề xuất không nên chỉ dựa vào một công cụ đơn lẻ mà nên kết hợp cả 2 thang điểm trong thực hành lâm sàng nhằm tránh hiện tượng ước đoán quá mức (của Framingham) hoặc đánh giá thấp nguy cơ (của WHO/ISH). Đồng thời, nhấn mạnh sự cần thiết phải kiểm soát tích cực các yếu tố thay đổi được (huyết áp, HbA1c, triglyceride, LDL-C và ngưng hút thuốc lá).
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Đây là nghiên cứu so sánh đối chiếu trực tiếp đầu tiên tại Việt Nam giữa thang điểm Framingham và WHO/ISH trên cùng một nhóm bệnh nhân ĐTĐ type 2, tạo cơ sở thực tiễn khẳng định nhu cầu cấp thiết phải xây dựng thang điểm tiên lượng nguy cơ tim mạch đặc thù cho người Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Cỡ mẫu còn hạn chế (n = 90 bệnh nhân), được thu thập theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện tại một trung tâm duy nhất (Bệnh viện E), do đó tính đại diện cho toàn bộ quần thể bệnh nhân ĐTĐ type 2 chưa cao.
  • Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang tại một thời điểm, chưa theo dõi dọc tiến cứu để ghi nhận các biến cố tim mạch thực tế phát sinh trong 10 năm, vì vậy chưa thể kiểm chứng chính xác giá trị tiên đoán thực tế cũng như mối quan hệ nhân quả.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Triển khai các nghiên cứu đa trung tâm trên cỡ mẫu lớn hơn, thiết kế nghiên cứu tiến cứu theo dõi dọc thuần tập (cohort) trong thời gian dài để ghi nhận biến cố tim mạch thực tế.
  • Trên cơ sở dữ liệu theo dõi dọc của người bệnh tại Việt Nam, tiến hành hiệu chỉnh các trọng số hoặc xây dựng một thang điểm đánh giá nguy cơ tim mạch chuyên biệt, phù hợp với đặc điểm nhân trắc học, dịch tễ học và lối sống của người Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho các đối tượng và mục đích chuyên môn:

  • Bác sĩ chuyên khoa Nội tiết, Tim mạch và Nội tổng quát: Cung cấp góc nhìn thực tiễn về mức độ sai lệch giữa các thang điểm dự báo nguy cơ tim mạch quốc tế khi áp dụng trên bệnh nhân Việt Nam, hỗ trợ việc cá thể hóa phác đồ điều trị và điều chỉnh mục tiêu huyết áp, lipid máu.
  • Sinh viên y đa khoa, học viên sau đại học và bác sĩ nội trú: Cung cấp phương pháp luận chặt chẽ trong thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, cách thức ứng dụng các thuật toán tra bảng tính điểm nguy cơ (Framingham, WHO/ISH WPR B) và kỹ thuật phân tích thống kê đánh giá sự đồng thuận (Cohen's Kappa).
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Chương 3 và Chương 4 với hệ thống bảng số liệu đối chiếu chi tiết các biến số lâm sàng, cận lâm sàng, cùng các lập luận khoa học giải thích nguyên nhân gây ra sự chênh lệch phân tầng giữa mô hình dịch tễ học thuần tập (Framingham) và mô hình ngoại suy khu vực (WHO/ISH).

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ phân tầng nguy cơ tim mạch 10 năm giữa thang điểm Framingham và WHO/ISH trong nghiên cứu có sự khác biệt như thế nào?

Theo thang điểm Framingham, đa số bệnh nhân tập trung ở phân tầng nguy cơ cao và rất cao (nguy cơ rất cao chiếm 45,56%, nguy cơ cao chiếm 24,44%, tổng cộng 70,0%), nhóm trung bình chiếm 22,22% và nhóm thấp chỉ chiếm 7,78%. Ngược lại, thang điểm WHO/ISH phân bổ bệnh nhân chủ yếu ở nhóm nguy cơ trung bình (34,45%), tiếp theo là rất cao (30,00%), thấp (21,11%) và nguy cơ cao chiếm tỷ lệ thấp nhất (14,44%).

2. Mức độ đồng thuận giữa hai thang điểm Framingham và WHO/ISH đạt giá trị bao nhiêu và phản ánh điều gì?

Phân tích thống kê ghi nhận hệ số Cohen's Kappa đạt κ = 0,259 với p < 0,001. Giá trị này phản ánh mức độ đồng thuận kém giữa hai thang điểm khi cùng đánh giá trên 90 bệnh nhân ĐTĐ type 2. Chỉ có 41/90 trường hợp (45,56%) có cùng kết quả phân tầng nguy cơ giữa hai công cụ.

3. Thực trạng kiểm soát đường huyết và lipid máu của đối tượng nghiên cứu tại Bệnh viện E ghi nhận ra sao?

Bệnh nhân nghiên cứu kiểm soát các chỉ số chuyển hóa rất kém: nồng độ glucose máu lúc đói trung bình là 12,75 ± 5,63 mmol/L với 90,0% bệnh nhân ≥ 7,2 mmol/L; HbA1c trung bình là 10,60 ± 2,37% với 92,22% bệnh nhân > 7,0% (chỉ 7,78% đạt mục tiêu HbA1c ≤ 7,0%). Về lipid máu theo ESC-EASD 2013, tỷ lệ không đạt mục tiêu chiếm đa số ở cholesterol toàn phần (70,0%), LDL-C (55,56%) và triglyceride (53,33%).

4. Những biến số lâm sàng và cận lâm sàng nào có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với phân tầng nguy cơ ở cả hai thang điểm?

Tuổi tác, huyết áp tâm thu (HATT) và nồng độ triglyceride huyết thanh là các yếu tố có mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) với mức độ tăng nguy cơ tim mạch ở cả hai thang điểm. Ngoài ra, thang điểm Framingham có liên quan chặt chẽ với giới tính, HDL-C và creatinin; trong khi thang điểm WHO/ISH có liên quan với thời gian phát hiện ĐTĐ, cholesterol toàn phần và LDL-C.

5. Tại sao thang điểm Framingham lại ước tính tỷ lệ nguy cơ cao và rất cao lớn hơn nhiều so với thang điểm WHO/ISH?

Thang điểm Framingham được xây dựng trên dữ liệu đoàn hệ người da trắng tại Hoa Kỳ trong giai đoạn tỷ lệ bệnh tim mạch cao, đồng thời gán trọng số điểm theo tuổi và giới tính nam rất lớn (nam giới trên 60 tuổi mặc nhiên có nguy cơ từ mức trung bình trở lên), dẫn đến ước tính quá mức nguy cơ ở người châu Á. Trong khi đó, WHO/ISH dựa trên dữ liệu ngoại suy dịch tễ, không tính đến tiền sử dùng thuốc điều trị và loại bỏ chỉ số HDL-C, khiến một số bệnh nhân lớn tuổi kiểm soát tốt huyết áp và mỡ máu bị xếp nhầm vào nhóm nguy cơ thấp.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thúy Như đã mô tả chi tiết nguy cơ tim mạch 10 năm trên 90 bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện E và chỉ ra sự khác biệt rõ rệt giữa hai công cụ đánh giá phổ biến. Thang điểm Framingham xếp phần lớn người bệnh vào nhóm nguy cơ cao và rất cao (70,0%), trong khi thang điểm WHO/ISH phân loại phần lớn vào nhóm nguy cơ trung bình (34,45%) và rất cao (30,00%). Mức độ đồng thuận giữa hai thang điểm đạt mức kém (Kappa κ = 0,259; p < 0,001), phản ánh sự khác biệt sâu sắc về quần thể nghiên cứu gốc và cấu trúc biến số đầu vào. Kết quả này nhấn mạnh việc cần phối hợp linh hoạt cả hai thang điểm trong thực hành lâm sàng và khẳng định sự cần thiết phải nghiên cứu xây dựng thang điểm dự báo nguy cơ tim mạch đặc thù cho người Việt Nam trong tương lai.