CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN A.Khái niệm dịch vụ và dịch vụ in ấn 1. Khái niệm dịch vụ Theo Kotler và Armstrong định nghĩa “dịch vụ là một hoạt động hoặc lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên khác về cơ bản là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu bất kỳ thứ gì. Sản xuất của nó có thể có hoặc có thể không gắn với một sản phẩm vật chất”. William Stanton, “dịch vụ là những hoạt động vô hình có thể nhận dạng riêng biệt, về cơ bản mang lại sự thỏa mãn mong muốn và không nhất thiết phải gắn liền với việc bán một sản phẩm hoặc một dịch vụ khác”.
Theo Adrian Payne nhận định “dịch vụ là một hoạt động có một yếu tố vô hình gắn liền với nó và liên quan đến sự tương tác của nhà cung cấp dịch vụ với khách hàng hoặc với tài sản thuộc về khách hàng. Dịch vụ không liên quan đến việc chuyển giao quyền sở hữu đầu ra” Theo Hiệp hội Tiếp thị Hoa Kỳ (1960), “dịch vụ là là các hoạt động, lợi ích hoặc sự thỏa mãn được cung cấp để bán hoặc được cung cấp liên quan đến việc bán hàng hóa”. Từ những quan điểm về khái niệm dịch vụ trên đây, ta có thể rút ra khái niệm về dịch vụ: Dịch vụ là sản phẩm của lao động, không tồn tại dưới dạng vật chất do một bên cung cấp cho bên khác nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng. Về cơ bản kết quả hoạt động dịch vụ là vô hình và thường không dẫn đến quyền sở hữu bất kỳ yếu tố sản xuất nào.
Quá trình sản xuất và tiêu thụ dịch vụ xảy ra đồng thời. SVTH: Lê Thị Loan 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hồ Sỹ Minh Đầu vào Đầu ra biến đổi Nguyên vậtliệu Xe hơi được Con người sửa chữa Vốn Hình 1.2: Các yếu tố cấu thành hệ thống dịch vụ (Nguồn: Giáo trình Marketing căn bản - GS.TS Trần Minh Đạo) 1. Các đặc điểm của dịch vụ b.1 Sự tham gia của khách hàng vào quá trình dịch vụ Sự có mặt của khách hàng như một người tham gia trong quá trình dịch vụ yêu cầu phải chú ý đến thiết kế địa điểm, phương tiện; Khách hàng có thể trở thành một phần năng động của trong tiến trình dịch vụ; Khách hàng có thể được sắp xếp, khuyến khích sử dụng dịch vụ ở bên ngoài công ty.Tính vô hình vô dạng hay phi vật chất Đối với dịch vụ, khách hàng không thể nhìn thấy, thử mùi vị, nghe hay ngửi chúng trước khi tiêu dùng chúng; Khách hàng phải lệ thuộc vào danh tiếng của doanh nghiệp.Tính sản xuất và tiêu thụ đồng thời của dịch vụ Sản phẩm được làm ra và tiêu thụ cùng lúc; Tính sản xuất và tiêu thụ đồng thời trong dịch vụ loại bỏ nhiều cơ hội trong việc kiểm soát chất lượng; Ví dụ : Làm tóc và sản xuất xe ô tô.Tính mau hỏng hay tính không cất giữ được Dịch vụ không thể được tồn kho, nó bị mất đi khi không được sử dụng Việc sử dụng đầy đủ công suất dịch vụ trở thành một thách thức trong quản lý SVTH: Lê Thị Loan 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hồ Sỹ Minh b.Tính không đồng nhất hay tính dị chủng của dịch vụ Sản phẩm dịch vụ phi tiêu chuẩn hoá, sự cung ứng dịch vụ phụ thuộc vào kỹ thuật và khả năng của từng người thực hiện dịch vụ. Dịch vụ xử lý, cải đổi con người (làm đẹp, thời trang) > dịch vụ tiện ích (tải nhạc nền điện thoại, c.
Đặc điểm đầu vào, đầu ra của dịch vụ Đầu vào: Đầu ra: - DV :bao gồm cả khách hàng DV : vô hình - SX : không bao gồm khách hàng - SX: Hữu hình c. Thời điểm tiêu dùng sản phẩm Chuỗi cung cấp hàng hóa Phân Sản xuất Tiêu thụ Chuỗi cung cấp dịch vụ Rao bán Hình 1.3: Sự khác nhau trong thời điểm tiêu dùng sản phẩm của sản xuất và dịch vụ (Nguồn: Giáo trình Marketing căn bản - GS.TS Trần Minh Đạo) c. Khả năng đo lường đánh giá năng suất và chất lượng của quá trình sản xuất và dịch vụ SX : thiết kế những tiêu chuẩn cụ thể, đo lường chính xác DV: rất khó có một tiêu chuẩn nhất định do những đặc điểm vô hình, tính dị chủng của dịch vụ.Cơ sở lý luận về hành vi khách hàng Hành vi của khách hàng là toàn bộ hành động mà khách hàng bộc lộ ra trong quá trình điều tra, mua sắm, sử dụng, đánh giá cho hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ. Cũng có thể coi hành vi khách hàng là cách thức mà khách hàng sẽ thực hiện SVTH: Lê Thị Loan 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hồ Sỹ Minh để đưa ra các quyết định sử dụng tài sản của mình (tiền bạc, thời gian, công sức,…) liên quan đến việc mua sắm và sử dụng hàng hóa, dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân.
Mô hình hành vi của khách hàng Mô hình hành vi khách hàng được sử dụng để mô tả mối quan hệ giữa ba yếu tố: các nhân tố kích thích; "hộp đen ý thức"; và những phản ứng đáp lại các kích thích của khách hàng được thể hiện trong hình 1.4 "Hộp đen ý thức" Các nhân tố kích thích Phản ứng đáp lại của khách hàng Marketing Môi trường Sản phẩm Kinh tế Các đặc Quá trình Lựa chọn hàng hóá. Giá cả KHKT tính của quyết Lựa chọn nhãn hiệu. Phân phối Văn hóa khách định Lựa chọn nhà cung ứng. Xúc tiến Chính trị/ hàng mua44 Lựa chọn thời gian và địa Pháp luật điểm mua.
Cạnh tranh Lựa chọn khối lượng mua Hình 1.4: Mô hình hành vi của khách hàng (Nguồn: Giáo trình Marketing căn bản - GS.TS Trần Minh Đạo) Các nhân tố kích thích: là tất cả các tác nhân, lực lượng bên ngoài khách hàng có thể gây ảnh hưởng đến hành vi của khách hàng. Chúng được chia làm hai nhóm chính: Nhóm 1: Các tác nhân kích thích của marketing: Sản phẩm, giá bán, phân phối và các hoạt động xúc tiến. Các nhân tố này nằm trong khả năng kiểm soát của doanh nghiệp. Nhóm 2: Các tác nhân kích thích không thuộc quyền kiểm soát tuyệt đối của các doanh nghiệp, bao gồm: môi trường kinh tế, cạnh tranh, chính trị, văn hóa, xã hội… "Hộp đen ý thức" của khách hàng: là cách gọi bộ não của con người và cơ chế hoạt động của nó trong việc tiếp nhận, xử lý các kích thích và đề xuất các giải pháp đáp ứng trở lại các kích thích.
Nó cũng được chia làm 2 phần: Phần 1- đặc tính của khách hàng: Nó ảnh hưởng cơ bản đến việc khách hàng sẽ tiếp nhận các kích thích và phản ứng đáp lại các tác nhân đó như thế nào?. SVTH: Lê Thị Loan 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hồ Sỹ Minh Phần 2- quá trình quyết định mua của khách hàng: Là toàn bộ lộ trình khách hàng thực hiện các hoạt động liên quan đến sự xuất hiện của ước muốn tìm kiếm thông tin, mua sắm, tiêu dùng và những cảm nhận họ có được khi tiêu dùng sản phẩm. Những phản ứng đáp lại: Là những phản ứng khách hàng bộc lộ trong quá trình trao đổi mà ta có thể quan sát được. Hành vi của khách hàng chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài.
Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hành vi của khách hàng được tập hợp thành 4 nhóm chính: những nhân tố văn hóa, xã hội, đặc điểm cá nhân và nhân tố tâm lý. Những nhân tố thuộc về văn hóa Các nhân tố văn hóa luôn được đánh giá là có ảnh hưởng sâu rộng đến hành vi của khách hàng. Văn hóa là lực lượng cơ bản đầu tiên biến nhu cầu tự nhiên của con người thành ước muốn. Nền văn hóa Nền văn hóa là nhân tố quyết định cơ bản nhất những mong muốn và hành vi của một người.
Một người trong quá trình phát triển sẽ tích lũy một số giá trị, nhận thức, sở thích và hành vi thông qua gia đình của mình và những định chế then chốt khác. Hiện nay, trong xã hội loài người tồn tại nhiều nền văn hóa khác nhau. Các nền văn hóa đó vừa có điểm tương đồng vừa có điểm khác biệt. Thông qua giao lưu, các nền văn hóa dần có nhiều điểm giống nhau nhưng vẫn không mất đi nét đặc thù riêng.
Với những đặc trưng tiêu biểu đó, văn hóa là yếu tố đầu tiên, cơ bản quyết định hành vi con người. Văn hóa Nền văn hóa Xã hội Nhóm tham khảo Cá nhân Tuổi và giai đoạn Tâm lý của chu kỳ sống Nhánh văn hóa Gia đình Nghề nghiệp Động cơ Hoàn cảnh kinh tế Nhận thức Khách Lối sống Hiểu biết hàng Tầng lớp xã hội Vai trò và địa vị Nhân cách và tự ý thức Niềm tin và thái độ Hình 1.5: Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hành vi của khách hàng (Nguồn: Giáo trình Marketing căn bản – GS.TS Trần Minh Đạo) SVTH: Lê Thị Loan 11 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hồ Sỹ Minh Nhánh văn hóa Mỗi nền văn hóa đều có những nhánh văn hóa nhỏ tạo nên những nét đặc thù và mức độ hòa nhập với xã hội cho những thành viên của nhánh. Các nhánh văn hóa tạo nên những khúc thị trường quan trọng. Hành vi khách hàng sẽ chịu ảnh hưởng bởi những đặc điểm của nhánh văn hóa thông qua những tác động đến cách lựa chọn sản phẩm,… của khách hàng.
Tầng lớp xã hội Hầu như tất cả xã hội loài người đều thể hiện rõ sự phân tầng. Hiện tượng này có thể mang hình thức một hệ thống đẳng cấp, theo đó, những thành viên thuộc những đẳng cấp khác nhau được nuôi nấng và dạy dỗ để đảm nhiệm những vai trò khác nhau. Thường gặp nhất là trường hợp phân tầng thành các tầng lớp xã hội. Đó là những bộ phận tương đối đồng nhất và bền vững, được sắp xếp theo thứ bậc và bao gồm những thành viên có chung một mối quan tâm và hành vi.
Có thể thấy các tầng lớp xã hội đều có những đặc trưng về sở thích rõ rệt đối với những sản phẩm dịch vụ. Vì vậy, điều quan trọng bậc nhất mà các nhà marketing cần quan tâm là những người cùng chung một giai tầng xã hội sẽ có khuynh hướng xử sự giống nhau và có thể sử dụng tầng lớp xã hội làm căn cứ để phân đoạn và lựa chọn thị trường mục tiêu, định vị qua đó thiết kết marketing mix cho phù hợp. Những nhân tố thuộc về xã hội Nhóm tham khảo Nhóm tham khảo có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới thái độ và hành vi của khách hàng.