MỞ ĐẦU Ngày nay, việc sử dụng dược phẩm có nguồn gốc thiên nhiên đang có xu hướng tăng mạnh, do đó cần có biện pháp quản lý chất lượng dược liệu từ khâu nguyên liệu đến sản phẩm. Chất lượng dược liệu phần lớn phụ thuộc vào thành phần hoạt chất, những chất hoá học có hoạt tính sinh học đóng góp vào tác dụng dược lý của dược liệu đó. Có nhiều nguyên nhân có thể ảnh hưởng đến thành phần hoạt chất trong dược liệu bao gồm nguồn gốc nguyên liệu không đảm bảo; địa hình địa lí trồng trọt, thu hoạch và bảo quản dược liệu. Cũng có thể do quá trình chế biến dược liệu không đúng kỹ thuật dẫn đến mất hoạt chất hoặc biến đổi hoạt chất, từ hoạt chất có lợi thành chất gây hại cho con người.
Ngoài ra, hoá chất độc hại cũng có thể được sử dụng trong bảo quản dược liệu. Thậm chí, một số dược liệu có thành phần hoạt chất thấp hoặc dược liệu giả mạo cũng được bán trên thị trường với danh nghĩa là dược liệu quý. Do vậy dược liệu nói chung cần được kiểm tra chất lượng sản phẩm đặc biệt là hàm lượng các hoạt chất có trong thành phần dược liệu nhằm đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng, bảo vệ sức khỏe con người. Hà thủ ô đỏ là một loại dược liệu phổ biến sử dụng trong chế biến thuốc đông dược.
Dược liệu này được sử dụng trong các sản phẩm đông dược dùng làm thuốc bổ, nhuận tràng, trị thần kinh suy nhược, các bệnh về thần kinh, bổ máu, làm đen râu tóc. Ở Việt Nam, hà thủ ô đỏ được coi là một vị thuốc quý và an toàn do quan niệm dân gian và có nguồn gốc tự nhiên. Ngày nay, hà thủ ô đỏ đã được chế ở rất nhiều dạng khác nhau như: dược liệu miếng hà thủ ô chế, bột hà thủ ô, trà hà thủ ô, viên thuốc hà thủ ô đỏ. Các sản phẩm này được bày bán tại các hiệu thuốc tây y, hiệu thuốc đông y và có thể mua một cách dễ dàng.
Điều này khẳng định dược liệu hà thủ ô đỏ đỏ được coi là sản phẩm an toàn. Tuy nhiên, trên sản phẩm, hàm lượng các hoạt chất của dược liệu được công bố không chi tiết và không có cảnh báo dùng trong bao lâu. Do vậy có thể dẫn đến hàm lượng hoạt chất không đủ để cải thiện trình trạng bệnh, hoặc tác dụng tích cực là không đáng kể. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về thành phần hóa học, hoạt tính, quy trình phân tích định tính định lượng các hoạt chất của hà thủ ô đỏ.
Tuy nhiên, ở Việt Nam các nghiên cứu khoa học về hà thủ ô đỏ còn khá khiêm tốn. Một số nghiên cứu 2 được tiến hành trên thiết bị sắc ký lỏng hiệu năng cao, song kết quả nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở phân tích định tính và định lượng một số ít hoạt chất chính của hà thủ ô đỏ đỏ. Để đánh giá đúng chất lượng của hà thủ ô đỏ, cần thiết phải xác định thành phần hóa học và thực hiện quá trình phân tích định lượng nhiều hoạt chất trong loại dược liệu này. Tuy nhiên, ở Việt Nam đến nay vẫn chưa có nhiều công trình công bố quy trình định lượng đồng thời nhiều hợp chất trong dược liệu và các sản phẩm từ dược liệu hà thủ ô đỏ.
Dược điển Việt Nam V chưa đưa quy trình định lượng đồng thời nhiều hoạt chất trong hà thủ ô đỏ. Sự hạn chế này một phần là do chúng ta còn thiếu các chất sạch làm chỉ thị phân tích trong khi ở một số nước khác có các ngân hàng chất sạch, có thể cung cấp phục vụ rộng rãi cho các nghiên cứu. Mặt khác, gần đây đã và đang có một số báo cáo khoa học công bố về một số tác dụng phụ có liên quan đến hà thủ ô đỏ. Các công bố này chủ yếu đưa ra các cảnh báo về các tác dụng phụ do sử dụng các chế phẩm hà thủ ô đỏ trong thời gian dài.
Tuy cơ chế gây độc chưa được làm sáng tỏ nhưng đã cảnh báo rằng khi liều dùng không phù hợp sẽ gây lên những tác động xấu đến sức khỏe của người tiêu dùng. Vì vậy, nhằm sử dụng dược liệu một cách an toàn và hiệu quả cần tăng cường quản lý chất lượng thông qua đánh giá hàm lượng hoạt chất trong dược liệu hà thủ ô đỏ. Để góp phần đánh giá chất lượng dược liệu hà thủ ô đỏ trên thị trường Việt Nam, trước tiên phải xác định rõ thành phần hoá học của chúng, phân lập và xác định cấu trúc của những hoạt chất chính. Từ đó thiết lập các điều kiện phân tích sắc ký lỏng hiệu năng cao nhằm phân tích định tính và định lượng các hoạt chất của các mẫu dược liệu hà thủ ô đỏ.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu xây dựng bộ dữ liệu phân tích định tính, định lượng hoạt chất trong dược liệu hà thủ ô đỏ Fallopia multiflora (Thunberg) Haraldson bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao”. Mục tiêu của luận án: Nghiên cứu làm rõ thành phần hóa học chủ yếu của rễ củ hà thủ ô đỏ tạo cơ sở xây dựng quy trình phân tích định tính, định lượng đồng 3 thời một số hoạt chất phân lập được, ứng dụng vào đánh giá hàm lượng các hoạt chất trong một số mẫu dược liệu này. Nội dung của luận án: Nghiên cứu phân lập và xác định cấu trúc các hợp chất từ rễ củ hà thủ ô đỏ thu hái tại Hà Giang, Việt Nam. Thiết lập một số điều kiện phân tích sắc ký HPLC trên thiết bị HPLC-DAD- MS từ chất sạch phân lập được.
Lập đường chuẩn định lượng và thẩm định quy trình phân tích đã thiết lập theo tiêu chuẩn của hiệp hội các nhà hóa học phân tích chính thức AOAC. Ứng dụng quy trình phân tích đã thiết lập phân tích định tính, định lượng đồng thời một số hoạt chất trên một số mẫu dược liệu hà thủ ô đỏ đang lưu hành trên thị trường Việt Nam, so sánh và đưa ra kết luận. Giới thiệu chi Fallopia Chi Fallopia, tên đồng nghĩa là Polygonum thuộc họ rau răm (Polygonaceae) với số lượng loài phong phú, gồm khoảng 300 loài khác nhau [1]. Các loài thuộc chi Polygonum được phân bố trên toàn thế giới, chủ yếu ở các vùng khí hậu ôn đới [2].
Chi Polygonum gồm các loài rất đa dạng, từ cây thân thảo cao dưới 5 cm đến các loại cây lâu năm thân thảo mọc thẳng cao đến 3 - 4 m, và những loại cây dây leo thân gỗ lâu năm mọc thành cây cao đến 20 - 30 m. Một số là thủy sinh, phát triển như thực vật nổi trong ao. Các lá của các loài dài khoảng 1 - 30 cm, hình dạng lá khác nhau giữa các loài từ hình mũi mác hẹp đến hình bầu dục, hình tam giác rộng, hình trái tim, hoặc các dạng đầu mũi tên. Thân cây thường có đốm đỏ hoặc hơi đỏ.
Cây có hoa nhỏ, màu trắng, hồng hoặc xanh lục, xuất hiện vào mùa hè ở chùm sẫm màu từ các khớp lá hoặc ngọn thân [1]. Polygonum là chi được đánh giá là có nhiều đặc tính thú vị từ hoạt tính sinh học đến thành phần hóa học [1]. Các thành phần hóa học được công bố trong các loài thuộc chi Polygonum gồm flavonoid [3], triterpenoid [4], anthraquinone [5], coumarin [6], phenylpropanoid [7], lignan [8], sesquiterpenoid [9], stilbenoid [10], và tannin [2]. Trong số các lớp chất trên, các hợp chất flavonoid là thành phần phổ biến được tìm thấy trong các loài thuộc chi Polygonum [11].
Tuy đa dạng về loài cũng như thành phần hóa học nhưng dữ liệu công bố về cấu trúc và hoạt tính của các hợp chất tinh khiết từ Polygonum còn khá khiêm tốn. Hai mươi chín loài khác nhau của chi Polygonum đã được báo cáo trong các tài liệu khoa học trong y học cổ truyền hoặc nghiên cứu hóa thực vật. Tuy nhiên, thông tin về thành phần hóa học chỉ có đối với một số ít loài. Vì vậy, nghiên cứu cấu trúc các hợp chất phân lập từ các loài thuộc chi Polygonum cần được quan tâm hơn.
Cho đến nay nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện trên một số loài thuộc chi này. Các lớp chất phân lập được từ chi Polygonum bao gồm terpenoit, flavonoid, coumarin, axit béo, dẫn xuất axit cinnamic, steroid và ancaloit. Tuy nhiên, một số loài vẫn chưa được biết đến về mặt hóa học hoặc dược lý học như P. Vì vậy, trong tương lai, sẽ có nhiều nghiên cứu về phân lập và xác định cấu trúc các hợp chất mới từ các loài này đồng thời thu được giá trị lớn về mặt khoa học.
Đồng thời, cần có những nghiên cứu chi tiết để hiểu rõ cấu trúc cũng như mối quan hệ giữa hoạt tính và cấu trúc của các hợp chất này. Về hoạt tính sinh học, một số loài thuộc chi Polygonum đã được khẳng định trong điều trị các bệnh khác nhau như trị rắn cắn, kháng viêm, chống ung thư, kháng khuẩn, chống vi rút, khử trùng, kháng nấm, điều trị bệnh tiểu đường, điều trị tăng huyết áp, tăng lipid máu, vàng da, xuất huyết, ho, sốt, loét, tình trạng da, thiếu máu, tiêu chảy và các rối loạn tiết niệu. Một số loài được dùng làm thực phẩm và thuốc đông y trong điều trị bệnh tim mạch [12], chống viêm [13], bảo vệ thần kinh [14] và giảm thiểu các quá trình sinh hóa liên quan đến thoái hóa thần kinh liên quan đến tuổi tác rối loạn như Alzheimer [15] và bệnh Parkinson [16]. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, nhiều dịch chiết các loài thuộc chi Polygonum có hoạt tính gây độc tế bào, kháng u, kháng khuẩn, giảm đau, chống viêm, hạ nhiệt, lợi tiểu và tác dụng chống oxy hóa.
Do đó, cần nghiên cứu về hoạt tính sinh học các hợp chất phân lập được nhằm khẳng định hoạt tính là do hợp chất nào quyết định. Ngoài ra, một số chiết xuất thực vật chỉ được nghiên cứu hoạt tính sơ bộ; vì vậy, cần điều tra thêm một số hoạt tính khác để có được thông tin đầy đủ về hoạt tính các hợp chất trong mỗi loài. Qua đó, nghiên cứu thổ nhưỡng, địa lí, khí hậu. nhằm phát triển dược liệu một cách phù hợp và hiệu quả.
Giới thiệu chung về hà thủ ô đỏ Hà thủ ô đỏ có danh pháp khoa học là Fallopia multiflora (Thunberg) Haraldson, tên đồng nghĩa là Polygonum multiflorum Thunb, là loài cây thân mềm, thuộc họ Rau răm (Polygonaceae), bộ Cẩm chướng (Caryophyllales) [17].