Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Các nghiên cứu về năng lực giải quyết vấn đề của học sinh Qua nghiên cứu tài liệu trong nước và nước ngoài cho thấy NLGQVD của HS nhận được sự quan tâm của các nhà giáo dục. Các công trình nghiên cứu về NLGQVD của HS ở các cấp học khác nhau, từ tiểu học [38], [50], [26], trung học cơ sở [61], [114], trung học phổ thông [30], [49], [79].
Nhiều công trình tập trung nghiên cứu về các vấn đề sau: * Nghiên cứu về vai trò của năng lực giải quyết vấn đề Nhiều công trình công trình nghiên cứu ở trên thế giới và Việt Nam cho rằng NLGQVD là NL quan trọng, cốt lõi của HS phổ thông [35], [63], [100]. Tác giả Sungur & Bal (2016) khẳng định rằng trong số nhiều NL của HS thì NLGQVD là NL quan trọng mà HS cần có trong quá trình học tập, nên phát triển NL này cho HS ngay từ khi còn nhỏ [112]. Theo tác giả Liljedahl và cộng sự (2016), GQVD được coi là trung tâm của việc học [91]. GQVD giúp HS kết nối các kiến thức đã được học với ứng dụng trong thực tiễn [114].
Nghiên cứu của Yusuf Ergen (2020) đã chỉ ra rằng những HS có NLGQVD giữa các cá nhân ngay từ thời thơ ấu có thể thiết lập tốt các mối quan hệ trong cuộc sống và HS thành thạo kĩ năng GQVQ sẽ giải quyết các vấn đề trong học tập và cuộc sống hàng ngày một cách dễ dàng hơn [117]. Ngược lại, nếu NLGQVD của HS chưa tốt thì sẽ khó tiếp thu kiến thức và hạn chế khả năng vận dụng những kiến thức vào vào thực tế, khó thích nghi với cuộc sống. Ở Việt Nam, nghiên cứu về NLGQVD có khá nhiều tác giả quan tâm. Tác 9 giả Nguyễn Thị Thu Thủy (2023) nhận định NLGQVD và sáng tạo là một trong các NL chung cần hình thành cho HS qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục [65].
Khi HS được được tham gia GQVD thì sẽ phát triển kỹ năng tư duy, khả năng tìm tòi, sáng tạo [35], [45]; giúp HS áp dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống [35], [63], [76]; giúp HS hứng thú, chủ động và tích cực hơn trong học tập [35], [45]. *Nghiên cứu về khái niệm năng lực giải quyết vấn đề Về khái niệm NLGQVD cũng đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu. Trong lí thuyết học tập của Howard Gardner (1997) thì GQVD là một thuật ngữ dùng để chỉ phạm trù cao nhất của kĩ năng tư duy [34]. Theo Polya trong Yulianti, Sukasno, &; Friansah (2016), NLGQVD là sự nỗ lực để tìm cách vượt qua khỏi khó khăn để đạt được mục tiêu mà ở đó không có sắn giải pháp và đạt được ngay lập tức.
Do đó, GQVD là một nỗ lực để vượt qua khó khăn để đạt được mục tiêu không dễ dàng đạt được bằng cách rút ra kiến thức được sở hữu thông qua hành động, từng bước một cách có hệ thống sẽ xây dựng một sự hiểu biết mới [118]. Đặc điểm của GQVD theo Ramazan Yurtseven (2021) là sự kết hợp của hai hay nhiều quy tắc theo các cách thức mới lạ, nó bao gồm việc huy động kiến thức và kinh nghiệm sẵn có để xác định vấn đề và tìm cách giải quyết nó [120]. Ở Việt Nam tác giả Đinh Quang Báo (2014), Nguyễn Thị Lan Phương (2015) cũng chỉ ra NLGQVD là khả năng của cá nhân và được biểu hiện trong các hoạt động học tập như phát hiện vấn đề, đề xuất cách giải quyết, thực hiện và đánh giá GQVD [2], [47]. Các tác giả nghiên cứu về NLGQVD chủ yếu theo 2 hướng tiếp cận: tiếp cận hiện đại theo tiến trình xử lí thông tin và tiếp cận truyền thống theo “ tiến trình GQVD.
Theo hướng tiếp cận truyền thống tập trung vào tiến trình GQVD và sự thay đổi nhận thức của chủ thể sau khi GQVD. Theo hướng tiếp cận hiện đại xem NLGQVD như một quá trình xử lý thông tin. Nó phân tích 10 suy nghĩ của người GQVD như một hệ thống xử lý thông tin, bao gồm vấn đề và không gian vấn đề. Không gian vấn đề trong NLGQVD là tập hợp những diễn biến tâm lý bên trong của người GQVD, bao gồm: trạng thái ban đầu (là những thông tin đã biết); trạng thái trung gian (là những trạng thái tâm lý xuất hiện trong quá trình giải quyết vấn đề); trạng thái mong muốn (là kết quả mà người GQVD muốn đạt được); cách thức, chiến lược hành động (là phương pháp được sử dụng để chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác).
* Nghiên cứu về cấu trúc NL, NLGQVD Về cấu trúc của NL, cũng có nhiều nghiên cứu dựa trên những quan điểm khác nhau. Mô hình của Rogiers nhấn mạnh rằng NL không chỉ đơn thuần là kiến thức lý thuyết. Thay vào đó, nó là sự kết hợp chặt chẽ giữa kiến thức, kỹ năng và hành động thực tiễn. Nói cách khác, để có NL trong một lĩnh vực nào đó, HS cần phải biết vận dụng kiến thức đã học vào việc giải quyết các vấn đề cụ thể.
NL được thể hiện rõ ràng nhất khi HS đối mặt với các tình huống thực tế và phải tìm cách ứng dụng kiến thức của mình để GQVD. [75] Một số tác giả xem xét NL dưới góc độ là khả năng thực hiện nhiệm vụ, NL của một người không chỉ tồn tại ở dạng tiềm năng mà phải được thể hiện ra bên ngoài thông qua các hoạt động cụ thể, việc đánh giá NL không chỉ dựa trên kiến thức hay kỹ năng mà còn phải xem xét hiệu quả thực tế mà người đó đạt được khi thực hiện hoạt động. Xét trên quan điểm giáo dục phát triển NL thì NL được hiểu là khả năng của một cá nhân để thực hiện thành công một hoạt động cụ thể. NL không chỉ đơn thuần là việc sở hữu kiến thức, mà còn là khả năng vận dụng kiến thức và kết hợp với kỹ năng và thái độ phù hợp để đạt được kết quả mong muốn trong một hoạt động.
NL là sự kết hợp hài hòa giữa kiến thức, kỹ năng và thái độ, được thể hiện qua khả năng hoàn thành một nhiệm vụ cụ thể trong một hoàn cảnh nhất định. ” 11 Với tiếp cận về bản chất, biểu hiện của NL trong Chương trình GDPT định hướng phát triển NL cho HS, chương trình phổ thông 2018 có đưa ra cấu trúc NL theo mô hình tảng băng và được mô tả như sau: Tầng 1: Làm: Quan sát được, đánh giá được Tầng 2: Suy nghĩ: Kiến thức, kỹ năng, thái độ, chuẩn giá trị, niềm tin Tầng 3: Mong muốn: Động cơ, nét nhân cách, tư chất Mô hình tảng băng về cấu trúc NL thể hiện nét bản chất của NL, như mối liên hệ giữa các yếu tố quan trọng nằm trong cấu trúc NL, yếu tố TNXH, yếu tố ẩn tàng và yếu tố có thể quan sát được hoặc yếu tố tình cảm và ý chí,. Nguyễn Thị Lan Phương (2014), Phan Khắc Nghệ (2016), Chu Văn Tiềm (2019) Nguyễn Ngọc Duy (2020) đều xác định cấu trúc NL được thiết lập dựa trên ba thành phần chính, bao gồm: Hợp phần: Đây là nền tảng của năng lực, được cấu thành từ các lĩnh vực chuyên môn đặc thù. Thành tố: Mỗi hợp phần được xây dựng từ các thành tố, là những NL hoặc kỹ năng bộ phận đóng vai trò then chốt.
Hành vi: Là yếu tố vi mô nhất, được chi tiết từ mỗi thành tố, thể hiện NL một cách cụ thể và chi tiết. Như vậy cấu trúc NL, nhiều tác giả đã nghiên cứu nhưng tùy vào các tiếp cận và đặc trưng môn học khác nhau mà các tác giả xác định cấu trúc NL không giống nhau. Về cấu trúc NLGQVD, nghiên cứu của Esther Care, Patrick Griffin and Mark Wilson (2014) đã chia NLGQVĐ thành 2 thành tố là NL xã hội và NL nhận thức và đề xuất thang phân loại NLGQVĐ gồm 6 mức độ từ thấp đến cao để đo lường các vấn đề từ đơn giản đến phức tạp [82]. Các tác giả Nguyễn Thị Lan Phương (2014), Trần Ngọc Thắng (2019) xác định NLGQVD bao gồm 4 thành tố: Tìm hiểu vấn đề; Thiết lập không gian vấn đề; Lập kế hoạch và thực hiện giải pháp; Đánh giá, phán ánh giải pháp [47], [62].
Tác giả Vũ Thanh Lam (2020) xác định cấu trúc NLGQVD bao gồm: NL phát hiện và làm rõ vấn đề; 12 NL huy động các kiến thức của môn TNXH để đề xuất giải pháp giải quyết các tình huống thực tiễn; NL ra quyết định lựa chọn và thực hiện giải pháp hợp lí để giải quyết vấn đề thực tiễn; NL đánh giá và điều chỉnh giải pháp [35]. Tác giả Nguyễn Đức Huân (2022) xác định cấu trúc NLGQVD gồm 5 thành tố: Tìm hiểu vấn đề; Phát hiện và làm rõ vấn đề; Hình thành và triển khai ý tưởng mới; Thiết kế, đề xuất, lựa chọn giải pháp giải quyết vấn đề; Thực hiện giải pháp đánh giá và rút ra kết luận giải pháp phù hợp [22]. Ngoài ra khi nghiên cứu về cấu trúc của NLGQVD các tác giả đã đưa ra các chỉ bảo hành vi cho mỗi thành tố của NLGQVD [47], [62]. Các nghiên cứu về phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học các môn học * Nghiên cứu về sự cần thiết của phát triển NLGQVD NLGQVD là một trong những NL cốt lõi, được chú trọng phát triển trong giáo dục ở nhiều nước trên thế giới [65], [113], [100].
Hiện nay có khá nhiều công trình nghiên cứu khẳng định rằng NLGQVD của HS được hình thành trong quá trình DH và thông qua các môn học khác nhau như toán học [54], [100], [103]; Vật lý [62, [63], [65]; Hóa học [14], [71], [77]; Sinh học [24], [102]; Khoa học [104]; Địa lí [16], [45]; Tự nhiên và Xã hội [35], [97]. * Nghiên cứu về phương pháp, hình thức dạy học để phát triển NLGQVD Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã chỉ ra rằng phương pháp DH dự án [67], [83], [96], [99], [107]; phương pháp DH giải quyết vấn đề [85], phương pháp Bàn tay nặn bột [11], [60], phương pháp đóng vai [33], DH theo theo định hướng giáo dục STEM [12], [36], [74], DH trải nghiệm [22], [24], [86] phát triển NLGQVD cho HS. Nghiên cứu của Fiteriani và cộng sự (2021) đã chứng minh tiềm năng của phương pháp dạy học dự án trong việc nâng cao khả năng giải quyết vấn đề của HS [83].