Chương 1: NGUON TIN NỘI SINH VỚI HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO, NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI 1. Cơ sở lý luận về tổ chức quản lý nguồn tin nội sinh 1. Khái niệm tài liệu Khái niệm “tài liệu” là tính không tách rời của vật mang tin và của thông tin ghi trên nó. Nhưng những định nghĩa sớm hơn lại nhắn mạnh sự chú ý vào đối tượng vật chất - vật mang thông tin, còn những định nghĩa muộn hơn lại dành sự chú ý nhiều hơn tới thành tổ thông tin của tài liệu Ở nước Nga, theo tiêu chuẩn quốc gia đầu tiên về thuật ngữ GOST 16487-70 “Văn thư và công tác lưu trữ.
Các thuật ngữ và định nghĩa”, khai niệm “tài liệu” đã được định nghĩa là “phương tiện dé giữ lai các tin tức về những sự việc, sự kiện, hiện tượng của thực tiễn khách quan và hoạt động tư duy của con người”. Trong tiêu chuan GOST 16487-83 “Văn thư và công tác lưu trữ. Các thuật ngữ và định nghĩa”, thuật ngữ “tài liệu” đã được định nghĩa như là “đối tượng vật chất cùng với thông tin được ghi nhận bởi con người, bởi phương pháp dé truyền nó trong thời gian và không gian”. Ngày nay, khái niệm “tài liệu” được định nghĩa như sau: “Tài liệu - là thông tin được gắn trên vật mang tin với những tiêu chí cho phép nhận dạng nó”.
Đối với công tác quản lý, văn thư, lưu trữ, điều quan trọng là làm sao có thé nhận dạng được thông tin chứa đựng trong tải liệu, sao cho tai liệu được trình bày theo trật tự được thiết lập với những tiêu chí nhất định (các yếu tổ trình bày tài liệu). Cần phải nói thêm răng, tài liệu còn có hai đặc điểm phân biệt nữa. Thứ nhất, thông tin chứa đựng trong tài liệu nhờ sự tham gia sáng tạo của con người, vì vậy tải liệu phản ánh quá trình quản lý hay hoạt động cá nhân; tài liệu không chỉ đơn giản là tập hợp các dữ liệu mà còn là kết quả hoặc là sản phẩm của một sự kiện nào đó. Thứ hai, một thành phần mang tính 13 pháp lý của tài liệu - khả năng dùng làm bằng chứng của nó đóng vai trò không kém phan quan trong trong hoạt động quản lý và hoạt động cá nhân.
Chính vi vậy, trong tiêu chuẩn quốc tế ISO 15489, “tài liệu” được hiểu là A199 thông tin được tạo lập, tiếp nhận và lưu giữ bởi tổ chức hoặc cá nhân như là bản chứng nhận dé khang định trách nhiệm pháp lý hay hoạt động quản lý. Khai niệm tài liệu nội sinh Nội sinh là tất cả những gi được sinh ra từ bên trong bản thân sự vật, đối tượng được nói đến. Vậy thì đối với các trường đại học, chính trong quá trình hoạt động dao tạo và nghiên cứu khoa học, nhà trường đã tạo ra một khối lượng tài liệu có giá trị gọi là nguồn tin nội sinh. Đó là các công trình nghiên cứu khoa học, luận án, luận văn, sách giáo trình, sách tham khảo, tài liệu hội nghị, hội thảo.
Day là nguồn thông tin rất có giá trị, phục vụ đắc lực cho học tập, giảng dạy, nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên, sinh viên các trường. Trong xu thé phát triển chung của đất nước, hoạt động đào tạo của các trường đại học ngay cảng mở rộng, công tác nghiên cứu khoa học cũng không ngừng được đây mạnh. Do đó nguồn tin nội sinh của mỗi trường ngày càng tăng nhanh về số lượng và chuyên sâu về nội dung. Tài liệu nội sinh được hiểu là toàn bộ tài liệu được tạo ra từ hoạt động đào tạo, nghiên cứu của trường Đại học Ngoại thương Hà Nội (ĐHNTHN) thuộc quyền sở hữu các chủ thể tạo ra các tài liệu.
Chúng ta đều biết rằng thông tin khoa học được sản sinh ra trong quá trình hoạt động khoa học của mỗi con người, được tư liệu hóa và ton tại đưới nhiều dạng khác nhau, trong đó có ba dạng chính: Tài liệu xuất bản; Tài liệu phù du (Lịch bay hàng không, tờ quảng cáo du lịch.) và tài liệu không xuất bản hay còn gọi là tài liệu nội sinh. Mặc dù là tài liệu không xuất bản nhưng loại tài liệu này vẫn được công bố rộng rãi dưới nhiều kênh phân phối đặc biệt và thu hút được sự quan tâm của đội ngũ những người làm công tác thông tin thư viện. 14 Một bộ phận quan trọng của nguồn tin nội sinh là tài liệu xám. Tài liệu xám là các tài liệu không được công bồ rộng rãi, thường không có mặt trong các kênh phát hành, phân phối truyền thống, được công bố trong nội bộ cơ quan, don vi, trường học, nội dung chuyên sâu về một chuyên ngành, lĩnh vực và không chịu tác động của các mục đích thương mại.
Không thể phủ nhận tài liệu xám đang dan khang định vi thé là một nguồn tài nguyên thông tin quan trọng, đặc biệt cần thiết cho những người làm công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Tài liệu xám cũng cho người ta thấy cái nhìn vừa tổng quan lại vừa chuyên sâu về một chuyên ngành, lĩnh vực, chủ đề cụ thể do bản thân tải liệu xám thường tập trung vào một ngành, chuyên môn nào đó. Bên cạnh đó, góp phần bổ sung vào nguồn tai nguyên thông tin miễn phí cho cộng đồng người sử dụng, đặc biệt là ở các nước đang và kém phát trién Như vậy, ta có thé nhận thấy tài liệu xám phong phú, đa dang hon tai liệu nội sinh nhất là trong phạm vi của một Trường đại hoc. Khái niệm tổ chức quản lý Quản ly là một chức năng lao động xã hội, bắt nguồn từ tinh chất xã hội của lao động.
Trong tat cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn ton tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tô chức. Hiện nay có rất nhiều khái niệm về quản lý, mỗi khái niệm quản lý là một cách nhận biết, một cách hiểu biết về ban chất của quan lý theo một quan điểm va theo một phương pháp tiếp cận. Quan lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thé quản ly tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra. Quản lý là một phương thức làm cho những hoạt động được hoàn thành với một hiệu suât cao, băng và thông qua những người khác.
15 Quản lý là sự tác động có ý thức dé chỉ huy, điều khiến, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để đạt tới mục đích của người quản lý, phù hợp với quy luật khách quan. Như vậy, mục đích của quản lý bao gồm các điểm cơ bản là; Quản lý bao giờ cũng là một tac động hướng đích, có mục tiêu xác định. Quản lý thé hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận đó là chủ thé quản lý (là cá nhân hoặc tổ chức làm nhiệm vụ quản lý, điều khiển) và đối tượng quản lý (là bộ phận chịu sự quản lý), đây là quan hệ ra lệnh - phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc. Quản lý chính là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan.
Một đặc điểm cần chú ý cho những nhà quản lý là trong công tác quản lý nói chung thì quản lý con người bao giờ cũng là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu trong hệ thống quản lý 1. Khái niệm tổ chức quản lý nguôn tin nội sinh Quản lý nguồn tin nội sinh là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thê là các cơ quan thông tin, thư viện tới đối tượng quản lý là nguồn tin nội sinh nhằm đạt mục tiêu là làm sao dé nguồn tin này được khai thác và sử dụng một cách tốt nhất, được sử dụng một cách lâu dài, cho nhiều mục đích, một cách bình đăng giữa mọi người và việc khai thác cần tuân thủ các quy định của pháp luật cũng như các thông lệ khác. Hiện nay trong các trường đại học ở nước ta, đầu mối quản lý nguồn tài liệu nội sinh chủ yếu là thư viện của trường. Điều này có thuận lợi vì các thư viện đại học có nguồn tài liệu nội sinh phong phú và đa dạng.
Hầu hết các thư viện đại học đã được hiện đại hóa, có khả năng phục vụ được cả nguồn tài liệu truyền thống và hiện đại, như tài liệu điện tử, nguồn tai liệu số hóa. - Nang cao chất lượng quản lí nguồn tài liệu nội sinh theo kĩ thuật thư viện thông thường: áp dụng các chuẩn nghiệp vụ tiên tiễn trong xử lí tài liệu, tổ chức kho tài liệu dé tiến tới phục vụ liên thông giữa các thư viện đại học. 16 Việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ như phân loại theo DDC, biên mục mô tả theo AACR2 và MARC2I, đã được Bộ Van hóa — Thông tin chính thức cho phép, qua công văn số 1598 /BVHTT-TV, ngày 07 tháng 5 năm 2007 “V/v Áp dụng chuẩn nghiệp vụ trong các thư viện Việt Nam”. Nhiều thư viện đại học lâu nay đã đi theo xu hướng áp dụng các chuẩn trên, nay lại thêm có cơ sở pháp lí dé đi đến chuẩn hóa trong hệ thống và là điều kiện thuận lợi cho phục vụ liên thông giữa các thư viện đại học.
- Quản lí nguồn tai liệu nội sinh theo môn hoc/nganh học. Trong ki thuật thư viện, từ lâu đã có phương pháp quản lí kho tài liệu theo môn loại của bang phân loại thư viện — thư mục, hoặc theo chủ đề của bảng đề mục chủ đề, đều là quản lí tài liệu theo nội dung. Tuy vậy điều này chưa hoàn toàn sát hợp và đáp ứng được yêu cầu quản lí tài liệu theo các ngành đào tạo, các môn học trong trường đại học. Theo yêu cầu của kiểm định chất lượng đào tạo đại học, thư viện đại học phải đáp ứng số đầu sách cho từng môn học theo chuẩn nhất định.
Nếu thống kê theo kí hiệu phân loại thông thường sẽ không đáp ứng được yêu cầu này. Còn theo yêu cầu của đào tạo theo tin chi, thư viện phải chỉ ra nguồn tài liệu bắt buộc doc và tai liệu tham khảo cho từng môn học, thì kĩ thuật biên mục theo nội dung thông thường không đáp ứng được. Do vậy, dé quan li nguồn học liệu phục vụ đào tạo theo tín chỉ các thư viện cần xây dựng CSDL môn học, gồm những thông tin thư mục về tài liệu có trong thư viện cho giảng viên và sinh viên sử dụng.