Chương I NHUNG VAN DE CHUNG VE CHIA SE NGUON LUC THONG TIN VA KHAI QUAT VE THU VIEN CAC TRUONG TRONG DAI HQC THAI NGUYEN 1. Những vấn đề chung về chia sẻ nguồn lực thông tin 1. Khái niệm nguân lực thông tin Trong sự nghiệp đổi mới nền giáo dục nước nhà, vấn đề đổi mới phương, pháp dạy - học, nâng cao chất lượng giáo dục đảo tạo luôn được Đảng, Nhà nước và các cấp quản lý giáo dục quan tâm. Một trong những nhiệm vụ, giải pháp mà Bộ Chính trị đã đề ra nhằm đổi mới căn bản, toàn diện sự nghiệp giáo dục và đào tạo Việt Nam đó là: "Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học, khắc phục cơ bản lối truyền thụ một chiều.
Phát huy phương pháp dạy học tích cực, sáng tạo, hợp tác; giảm thời gian giảng lý thuyết, tăng thời gian tự học, tự tìm hiểu cho học sinh, sinh viên; gắn bó chặt chẽ giữa học lý thuyết và thực hành, đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học, sản xuất và đời sống" Hiện nay, các trường đại học, cao đăng trong cả nước đã chuyển từ phương thức đào tạo theo niên chế sang phương thức đào tạo theo hệ thống. Một trong những yêu cầu của đào tạo theo hệ thống tín chỉ là giảm đáng kể giờ lên lớp lý thuyết và tăng số giờ thảo luận, thí nghiệm, thực hành. Giờ tự học của sinh viên tăng gấp đôi so với đào tạo theo niên chế. Để đáp ứng với các yêu cầu đó, đòi hỏi cần phải có một hệ thống TTTV đủ mạnh, một hệ thống GT, để cương bài giảng, tài liệu tham khảo, nguồn thông tin khoa học đáp ứng nhanh chóng, đầy đủ nhu cầu của người dạy, người học.
Việc triển khai mô hình đào tạo theo tín chỉ thành công gắn liền với nhiều yếu tố, trong đó nguồn học liệu, nguồn thông tin khoa học đóng một vai trò quan trọng, quyết định trong kết quả học tập và nghiên cứu khoa học. 15 Hoạt động giáo dục đại học luôn gắn liền với hoạt động chuyén giao tri thức và nghiên cứu khoa học. Trong đó, một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng và đóng vai trò quyết định chất lượng chuyền giao tri thức và nghiên cứu khoa học là khả năng cung cấp nguồn tin của thư vi lên đại học đề thúc đây việc tự học, tự nghiên cứu của các giáo sư, giảng viên và sinh viên trong trường đại học. Đây chính là sứ mệnh của các thư viện đại học.
Vì vậy, quá trình đổi mới giáo dục đại học Việt Nam phải song hành với quá trình đổi mới các thư viện đại học nhằm thỏa mãn tốt nhất nhất nhu cầu thông tin cho NDT. Việc đổi mới phương pháp dạy — học, chuyền đổi từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo tín chỉ và kiên trì mục tiêu không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội trong nhà trường đại học đã và đang đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ mới cho hoạt động thông tin — thu viện trong hệ thống thư viện các trường đại học hiện nay. Trong đó, NLTT của thư viện cũng là một trong những tiêu chí để đánh giá, kiểm định chất lượng trường đại học; là điều kiện quan trọng đáp ứng yêu. cầu đổi mới phương pháp dạy — hoc.
Ở dạng chung nhất, NLTT được hiểu như là tổ hợp các thông tin nhận được và tích lũy được trong quá trình phát triển khoa học và hoạt động thực tiễn của con người, để sử dụng nhiều lần trong sản xuất và quản lý xã hội NLTT phản ánh các quá trình và hiện tượng tự nhiên được ghi nhận lại trong. kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học và trong các dạng tài liệu khác của hoạt động nhận thức và thực tiễn. Nguồn lực thông tin bao gồm các dữ liệu thể hiện dưới dạng văn bản, hình ảnh hoặc âm thanh được ghỉ lại trên phương tiện theo quy ước và không. theo quy ước, các sưu tập, những kiến thức của con người, những kiến thức của tô chức và ngành công nghiệp thông tin.
16 Nguồn lực thông tin được coi là phần tích cực của tiềm lực thông tin, được tổ chức, kiểm soát sao cho NDT có thể truy nhập, tìm kiếm, khai thác, sử dụng được và phục vụ cho các lợi ích khác nhau của xã hội. Nguồn lực thông tin là loại tài sản có định đặc biệt, càng được khai thác sử dụng thì càng giầu thêm mà không hề bị hao mòn mắt mát đi Nguôn lực thông tin có các đặc trưng sau: - Tinh vật lý: Nguồn lực thông tin là những phần thông tin hoặc tri thức được ghi lại, cố định lại thông qua một hệ thống dấu hiệu và được lưu giữ trên các vật mang tin (như giấy, đĩa, băng từ. ~ Tính cấu trúc: Nguồn lực thông tin phải có tính cấu trúc thể hiện ở chỗ các thông tin phải được trình bảy, diễn đạt, nhận dạng (nhận dạng về hình thức và nhận dạng về nội dung) theo các quy cách và tiêu chuẩn nhất định giúp con người có thể bao quản an toàn và dễ dàng truy nhập thông tin, - Tính truy cập: Nguồn lực thông tin phải được tổ chức kiểm soát sao cho NDT có thể tìm ra chúng thông qua các điểm truy cập khác nhau, ví dụ NDT quan tâm đến nội dung thông tin thì các chủ đề sẽ là thành phần truy cập chủ yếu trong các hệ quản trị thông tin. - Tính chia sẻ: Tính chia sẻ của NLTT thể hiện ở khả năng trao đổi nhiều chiều giữa các hệ thống thông tin với nhau.
Muốn vậy giữa các hệ thống thông tin phải có sự tương thích. Tiền đề công nghệ đẻ trao đổi nhiều chiều này là sự tồn tại của các mạng. Việc cung cấp thông tin, dữ liệu, tài liệu không chỉ hạn chế trong khuôn khổ những gì cơ quan thông tin, thư viện đó có mà phải thực hiện nguyên lý chia sẻ NLTT dựa trên mạng trao đổi thông tin năng động, có hiệu quả 17 ~ Tính giá trị: Giá trị của thông tin càng cao khi càng có nhiều người sử dụng. NLTT nếu được sử dụng một cách hợp lý sẽ có tác động thúc đây mạnh mẽ các quá trình hoạt động xã hội, kích thích sự sáng tạo của con người 1.
Van dé chia sẻ nguôn lực thông tin Chia sẻ nguồn lực là sự giúp đỡ lẫn nhau để đáp ứng kịp thời cho các nhu cầu. Nói một cách khác đó là sự đóng góp riêng của mỗi người đem lại lợi ích cho những người khác. Chia sẻ nguồn lực có thể được áp dụng đối với các kho tài liệu, quỹ tài chính và nhân lực. Chia sẻ NLTT là sự hợp tác, phối hợp với nhau giữa các cơ quan TTTV để đáp ứng kịp thời cho các nhu cầu của NDT của mỗi cơ quan đó.
Lê Văn Viết: “Mượn, chia sẻ tài liệu, thông tin giữa các thư viện là hình thức phục vụ bạn đọc khi sử dụng NLTT của các thư viện, cơ quan thông tin khác cả trong nước lẫn nước ngoài để đáp ứng nhu cầu đọc và thông tin của người dùng thư viện mình. Như vậy có mượn, chia sẻ tài liệu trong nước và quốc tế. Mượn, chia sẻ tài liệu có mục đích tạo ra những điều kiện tốt nhất để thoả mãn một cách toàn diện và kịp thời những yêu cầu về tài liệu, thông tin của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức kinh tế, khoa học, giáo dục, văn hóa, các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, xã hội nghề nghiệp và các cá nhân, đồng thời phát huy với hiệu quả cao nhất vốn tài liệu, thông tin của các thư viện, cơ quan thông tin trong cả nước. Mượn, chia sẻ tài liệu vì thế tiết kiệm được kinh phí cho các thư viện” [22, tr.15] Hợp tác thư viện để chia sẻ NLTT đã có lịch sử lâu đời, ngay từ năm 1907 Hội Thư viện Mỹ đã tổ chức hội nghị bàn về vấn đề này.
Những hình thức chủ yếu của nó trong thời gian này là thành lập mục lục liên hợp và trao đổi sách, mượn giữa các thư viện. Những năm sau này còn xuất hiện các hình thức khác như phối hợp bồ sung, tạo lập mạng thông tin sử dụng chung NLTT 18 Trên thực tế, một TTTT dù có lớn đến đâu, dù có được đầu tư ưu đãi đến đâu nếu hoạt động biệt lập, sẽ không thể thực hiện được một cách day đủ và hoàn thiện các chức năng mà mình phải đảm nhận Hiện nay một trong những vấn đề quan tâm của các thư viện ở tất cả các nước là giá thành tài liệu bổ sung cao. Vấn đề này đang khuyến khích các thư viện thoả thuận (chính thức hay không chính thức) phối hợp bổ sung tài liệu một cách hợp lý, trao đổi tài liệu và chia sẽ NLTT giữa các thư viện trong một hệt ng, trong vùng miễn, trong cả nước và trên phạm vi thế giới. Xét về mặt tổ chức, chia sẻ nguồn lực là sự tích hợp khả năng đầu vào.
của các đơn vị hoạt động trong cùng một lĩnh vực cụ thể nào đó, chẳng hạn như lĩnh vực TTTV. Xét về mặt quản lý, chia sẻ NLTT biểu hiện trong quá trình ra quyết định dựa trên cơ sở lựa chọn các giải pháp tốt nhất cho mọi hoạt động. Như vậy chia sẻ NLTT liên quan đến hai hoạt động: tổ chức và quản lý. Nói một cách cụ thê, chia sẻ nguồn lực là quá trình hợp tác phối hợp giữa các thư viện nhằm huy động một cách tối đa các tiềm năng có thể về thông tin của các thư viện trong hệ thống.
Chia sẻ NLTT có nghĩa là sự kết tụ năng lực của các nhà quản lý TTTV nhằm tạo ra một sức mạnh thông tin mới lớn hơn gấp nhiều lần các sức mạnh riêng lẻ Xét về khía cạnh kinh tế, hợp tác chia sẻ NLTT giúp cho thư viện nâng cao tính hiệu quả trong việc xây dựng vốn, bằng cách không bổ sung những. tài liệu có thể có được thông qua hợp tác thư viện để chia sẻ NLTT, tập trung bổ sung những tài liệu cần thiết nhất, phù hợp nhất cho đối tượng chính sử dụng. Hợp tác thư viện và chia sẻ NLTT luôn gắn chặt với tài chính sẵn có của mỗi thư viện riêng lẻ. Không một thư viện nào có đủ nguồn tài chính để 19 mua tất cả các loại tài liệu để cung cấp đủ nhu cầu cho NDT.
Hợp tác thư viện và chia sẻ NLTT làm phong phú thêm vốn tài liệu của thư viện 1.