Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO Ở HỌC VIỆN TRONG QUÂN ĐỘI THEO HƯỚNG NHÀ TRƯỜNG THÔNG MINH 1.Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đào tạo ở các trường đại học theo hướng nhà trường thông minh Có thể khẳng định, việc nghiên cứu về đào tạo ở các nhà trường nói chung, các trường đại học theo hướng nhà trường thông minh nói riêng được các nhà giáo dục trên thế giới quan tâm nghiên cứu từ rất sớm. Đặc biệt, khi thế giới bước vào thời kỳ hiện đại, trong sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 thì vấn đề này được nhiều tác giả nghiên cứu, đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau và từng bước đảm bảo có tính hệ thống, khoa học, chuyên sâu. Trong đó các công trình đều tập trung nghiên cứu làm rõ vai trò to lớn của việc ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông và các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại vào trong dạy học ở các trường đại học.
Ở New York, từ những năm 1990, công nghệ trong lớp học đã được quan tâm và các chương trình thông minh. Các trường học đã nhấn mạnh vai trò tích hợp công nghệ vào lớp học. Năm 1997, Malaysia lần đầu tiên thực hiện dự án giáo dục thông minh, trong đó có kế hoạch xây dựng nhà trường đại học theo mô hình nhà trường thông minh, được hỗ trợ bởi chính phủ để chuẩn bị lực lượng lao động đáp ứng những thách thức của thế kỷ XXI. Trong kỷ yếu của tổ chức Hiệp hội Truyền thông cho đào tạo và công nghệ (2012) (Association for Educational Communications andTechnology) nhóm tác giả Robinson, Rhonda, Molenda, Michael; Rezabek, Landra đã trình bày dự án Phương tiện trợ giúp học tập (Facilitating Learning) [161] về sơ đồ một hệ thống tổ chức đào tạo toàn diện với rất nhiều chức năng quan trọng, sử dụng phương tiện truyền thông với Mạng máy tính và Internet.
Mohamed Lamine Berkane, Mahmoud Boufaida, Nour El Houda Bouzerzour (2020), trong bài báo khoa học Mô hình hóa khả năng mở rộng đàn hồi của đám mây với hiệu quả năng lượng: Ứng dụng cho trường đại học thông minh cho rằng Điện toán đám mây đại diện cho một trong những đổi mới lớn trong Công nghệ 10 thông tin. Điện toán đám mây là nền tảng hạ tầng quan trọng để đào tạo và quản lý đào tạo ở các trường đại học theo mô hình nhà trường thông minh. Mức độ thành công của việc xây dựng và vận hành quá trình đào tạo theo mô hình nhà trường thông minh sẽ phụ thuộc vào độ hoàn thiện và khả năng vận hành của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, trong đó điện toán đám mây là yếu tố cốt lõi. Các tác giả Aihua Zhang, Xianqiong Feng (2022), trong bài báo khoa học Phân tích khái niệm dạy học thông minh đã đưa ra khái niệm về dạy học thông minh và chỉ ra năm thuộc tính liên quan.
Các tác giả cho rằng dạy học thông minh chỉ có thể tiến hành được trên cơ sở triết lý giáo dục thông minh và môi trường giảng dạy thông minh. Mục đích của việc dạy học thông minh là sự hình thành và phát triển trí tuệ của người dạy và người học. Theo các tác giả việc đi đến một quan niệm thống nhất về dạy học thông minh và nền tảng để thực hiện hoạt động đó trong thực tiễn và mở rộng thêm những lý thuyết về dạy học thông minh. Từ đó thúc đẩy việc đổi mới giáo dục và giảng dạy.
Sunita Mittal Agarwal (2023) với bài báo khoa học Các sáng kiến Go-Brown, Go- Green và thông minh được thực hiện bởi Đại học Delhi vì sự bền vững môi trường hướng tới Các trường đại học thông minh của tương lai: Nghiên cứu quan sát. Cho rằng các tính năng của mô hình đại học thông minh bao gồm môi trường thông minh, cơ sở hạ tầng thông minh và các giải pháp giáo dục thông minh với mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và các bên liên quan khác nhau có thể dẫn đến nghiên cứu trong tương lai [166]. Nghiên cứu của các tác giả Maria Efstratopoulou, Maxwell Peprah Opoku, Christina Davison, Abdulrafi Jaffarul, Aalya Mesmar (2024), trong bài báo khoa học Voices from Afar: Cross-national study of parental perspectives towards implementation of a smart learning environment in schools in the United Arab Emirates, (Nghiên cứu xuyên quốc gia về quan điểm của phụ huynh đối với việc triển khai môi trường học tập thông minh tại các trường học ở Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất) đăng trên Tạp chí International Journal of Educational Research Open 7 (2024) [147, pp. Nghiên cứu chỉ rõ: Môi trường học tập thông minh (SLE), là sự kết hợp giữa công nghệ tiên tiến và phương pháp sư phạm phù hợp, đã được nhiều quốc gia áp dụng như một bước hữu ích hướng tới chuyển đổi giáo dục.
Do đó, tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE), Khung chuyển đổi trường học thông minh đã được thiết kế và 11 triển khai để nâng cao việc học của học sinh. Thông qua việc thu thập xử lý với 2287 người tham gia trên khắp bảy Tiểu vương quốc tại UAE đối với áp dụng chương trình giáo dục thông minh trong các nhà trường như: quản lý thông minh, chương trình dạy học tích hợp, phòng học, thư viện thông minh… Từ đó khẳng định: mặc dù những người tham gia có thái độ mơ hồ về thái độ đối với học tập thông minh, nhưng vẫn có sự khác biệt giữa họ về nơi cư trú, giới tính và độ tuổi. Nhu cầu của các nhà hoạch định chính sách trong việc đẩy nhanh việc giáo dục công chúng về học tập thông minh cho phụ huynh, cũng như các ý nghĩa nghiên cứu khác, đã được thảo luận và đưa vào áp dụng ở Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Như vậy các nghiên cứu ở nước ngoài đã có những công trình khoa học bàn về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học. Các công trình nghiên cứu đều xác định: Trong dạy học hiện đại, vai trò của công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là xu hướng tất yếu.
Tuy nhiên các nghiên cứu về ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo ở trường đại học vẫn là quá ít so với những yêu cầu của công tác quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong bối cảnh xây dựng mô hình nhà trường thông minh tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp 4. Theo báo cáo về công nghệ thông tin trong giáo dục Việt Nam hiện trạng đến năm 2015 và mục tiêu đến năm 2020, ngày 16/03/2015 của VVOB phối hợp Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Hội đồng Anh tại Việt Nam và UNESCO. Đánh giá hiện trạng dựa trên mô hình 4 giai đoạn ứng công nghệ thông tin trong giáo dục của UNESCO: Giới thiệu/làm quen, áp dụng, lan truyền, chuyển đổi (UNESCO, 2005) [122]. Việt Nam đã tham gia vào mạng E-learning châu Á, bao gồm các bộ và các trường Đại học: Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Bưu chính - Viễn Thông, Bộ Khoa học - Công nghệ, trường Đại học Bách Khoa.
Như vậy việc nghiên cứu và ứng dụng loại hình này đang được quan tâm ở Việt Nam, nổi bật là dự án phát triển E-learning ở đại học Bách khoa Hà Nội. Các hội thảo về E-learning đã được tổ chức với sự tham gia của các nhà khoa học. Tuy nhiên, E-learning ở Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu và cần nhiều thời gian và giải pháp tích cực thì mới tiếp cận các nước phát triển. Hội thảo khoa học toàn quốc về công nghệ thông tin và truyền thông Các giải pháp công nghệ và quản lí trong ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào đổi mới phương pháp dạy học do Trường Đại học Sư phạm Hà Nội phối hợp với Dự án 12 Giáo dục đại học tổ chức ngày 9-10/12/2006 tại Hà Nội.
Các cuộc hội thảo đều tập trung thảo luận về vai trò của công nghệ thông tin đối với giáo dục và các giải pháp thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học. Với những nội dung chính: Một là, các giải pháp về công nghệ trong đổi mới phương pháp giảng dạy (Phổ thông, đại học và trên đại học): Công nghệ trí thức, công nghệ mã nguồn mở, các hệ nền và công cụ tạo nội dung trong E-Learning, các chuẩn trao đổi nội dung bài giảng, công nghệ trong kiểm tra đánh giá. Hai là, các giải pháp, chiến lược phát triển trong ứng dụng công nghệ thông tin vào đổi mới phương pháp dạy học: Chiến lược phát triển, kinh nghiệm quản lí, mô hình tổ chức trường học điện tử, mô hình dạy học điện tử … Ba là, các kết quả và kinh nghiệm của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học: Xây dựng và sử dụng phần mềm dạy học, cơ sở dữ liệu … Đề cập đến vấn đề nội dung trong đào tạo ngành An toàn thông tin, Thái Kim Phụng và Trương Việt Phương (2016) xem xét mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chất lượng thông tin đến kiến thức thu nhận của học viên, từ đó đề xuất một số giải pháp: Các trường học hoặc các tổ chức có triển khai hệ thống Elearning cần chú trọng khâu xuất bản nội dung lên website đào tạo cho người học phải thật dễ hiểu, hàm lượng vừa đủ (không thiếu cũng không thừa) và đặc biệt là phải mang tính áp dụng đối với từng môn học cụ thể; chú trọng tạo sự thuận lợi cho học viên truy cập thông tin và lựa chọn những công cụ xuất bản thông tin phù hợp để học viên có thể dễ dàng theo dõi và tổng hợp cho việc học của mình; phát triển các công cụ nhằm nâng cao sự tương tác giữa học viên và giảng viên; thường xuyên cập nhật nội dung bài học, bài giảng đồng thời cũng cần phải có cơ chế bảo mật thông tin phù hợp [92, tr. Tác giả Nguyễn Văn Hà (2017), trong sách: Công nghệ dạy học với xu hướng xây dựng nhà trường thông minh đáp ứng yêu cầu cách mạng công nghiệp lần thứ tư [53] cho rằng, trong xu hướng xây dựng nhà trường thông minh, công nghệ dạy học đã biến đổi mạnh mẽ và là phương tiện để triển khai thiết kế nội dung, chương trình dạy học, lớp học thông minh.
Học sinh là trung tâm và được hỗ trợ, tạo điều kiện để phát triển học tập thông minh. Nhà trường trở thành một tế bào, một mắt xích quan trọng trong thế giới kết nối với các trường học, với các tổ chức học tập khác và với cộng đồng nói chung. 13 Theo tác giả Nguyễn Hồng Minh (2017), trong bài báo khoa học: “Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và những vấn đề đặt ra đối với hệ thống giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam” đứng trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.