đặt vấn đề, đến xác định các mục tiêu và câu hỏi cho nghiên cứu; trình bày đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Bên cạnh đó, chương này còn khái quát kết cấu, bố cục của đề tài, từ đó giúp đọc giả có được cái nhìn tổng quan nhất về đề tài. 13 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này tác giả sẽ trình bày lý thuyết nền về việc thu hút và duy trì lao động chất lượng cao trong các tổ chức khu vực công thuộc địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh thông qua tổng quan một số nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan chặt chẽ đến đề tài. Dựa trên nền tảng này, tác giả có cơ sở tiến hành phương pháp nghiên cứu bằng việc đề xuất mô hình cũng như các giả thuyết nghiên cứu cho chương tiếp theo.1 Tổng quan lý thuyết * Khái niệm về lao động chất lượng cao: Theo Gagné và cộng sự (2000), lao động chất lượng cao là người có khả năng cũng như kỹ năng vượt trội so với người khác trong việc hoàn thành một số nhiệm vụ, đạt được thành tích cao hơn khoảng 10% so với những nhân sự khác trong cùng phạm vi hoạt động; trong khi theo Subotnik (2000), lao động chất lượng cao là cá nhân thể hiện được quyền làm chủ cao của bản thân về khả năng tự phát triển hệ thống kiến thức, kỹ năng cần thiết trong một lĩnh vực cụ thể.
Theo Michaels và cộng sự (2001), lao động chất lượng cao là người có tài năng, khả năng vượt trội về kiến thức, kinh nghiệm cũng như có óc phán đoán, thái độ phù hợp nhằm góp phần thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao. Theo Drucker và cộng sự (2018), lao động chất lượng cao là nguồn tài nguyên quý giá mà tổ chức cũng như các đối thủ cạnh tranh của tổ chức đều muốn sở hữu trong cuộc đua giành lấy người tài. Theo Tansley (2011), lao động chất lượng cao là lao động có năng khiếu đặc biệt, chịu ảnh hưởng bởi quá trình nhìn nhận của tổ chức và kích thích từ quá trình làm việc, cũng chính nhờ những cá nhân này mà tổ chức, doanh nghiệp có thể xác định một số phương pháp quản lý đặc biệt nhằm duy trì và mang lại những điều tốt đẹp nhất cho lực lượng đó, từ đó góp phần tạo giá trị 14 cạnh tranh cho chính tổ chức, doanh nghiệp. Theo Nguyễn Phan Thu Hằng (2016), lao động chất lượng cao là đội ngũ lao động với trình độ và tay nghề cao trong công việc, là lực lượng tuyến đầu góp phần chuyển giao công nghệ nhằm thực hiện công tác một cách xuất sắc nhất và là hạt giống trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời là đội ngũ dẫn dắt lực lượng lao động có trình độ chuyên môn và năng lực thấp hơn nhằm vươn xa với tốc độ nhanh nhất có thể.
Theo Hồ Bá Thâm (2003), lao động chất lượng cao hội đủ bốn đặc trưng gồm trí tuệ cao, nhân cách tốt, tay nghề cao và năng lực vượt trội, trong khi Nguyễn Hữu Dũng (2003) nhận định rằng nguồn nhân lực chất lượng cao là lực lượng lao động lành nghề với chuyên môn riêng xét trong một phạm vi, lĩnh vực cụ thể. Nguyễn Phan Thu Hằng (2016) lại quan niệm rằng lao động chất lượng cao ngoài trình độ học vấn, chuyên môn cao trong nghề còn phải có khả năng thích ứng tốt với những thay đổi chớp nhoáng của công nghệ thông tin và có một sức khỏe cũng như phẩm chất đạo đức tốt, biết vận dụng tư duy sáng tạo và tri thức vốn có vào lao động, từ đó đem lại hiệu quả, năng suất cao cho tổ chức. Đối với quan điểm của Đàm Đức Vượng (2012), lao động chất lượng cao đề cập đến các chuyên gia, kỹ sư đầu ngành hay các công nhân tay nghề cao với trình độ chuyên môn vượt bậc. Đây chính là lực lượng có đủ năng lực giúp tổ chức nói riêng và đất nước nói chung giải quyết các vấn đề căn bản; đồng thời đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa cho dân tộc.
Theo Nguyễn Minh Phương (2010), nguồn lao động chất lượng cao được xem là lực lượng vượt trội có thể đảm đương công việc ở lĩnh vực hoạt động phức tạp với đầy thách thức và có khả năng đạt được hiệu quả cao trong một phạm vi nhất định. Bên cạnh đó, nhân tài còn là người có vốn tri thức sâu rộng, có kỹ năng nghiệp vụ cao cũng như có lý tưởng trong việc xây dựng xã hội tốt đẹp, phát triển bền vững. Căn cứ vào nội dung phân loại của Tổ chức Lao động Quốc tế ILO về các nhóm lao động tay nghề cao, căn cứ vào đường lối cũng như quan điểm của 15 Đảng cộng sản Việt Nam về việc duy trì và phát triển đội ngũ lao động chất lượng cao tại Đại hội XIII, căn cứ vào tình hình nguồn nhân lực hiện nay của nước ta, lao động chất lượng cao có thể được xem xét và phân loại thành các bộ phận cụ thể như sau: - Một là cán bộ cấp lãnh đạo, quản lý - Hai là đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp - Ba là người lao động tay nghề cao - Bốn là cán bộ khoa học, công nghệ. * Tiêu chí đánh giá lao động chất lượng cao: Theo các tiêu chí của Hồ Bá Thâm (2003), lao động chất lượng cao là đội ngũ phải tốt nghiệp từ bậc đại học, cao đẳng và xếp loại từ khá, giỏi trở lên.
Ngoài ra, nguồn nhân lực này cần có năng lực trong tư duy sáng tạo, ý chí vượt qua khó khăn cũng như có đạo đức trong công việc. Bên cạnh đó, nguồn lao động chất lượng cao cần phải thể hiện được tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, có kỹ năng chuyên môn nhằm tạo ra kết quả lao động đạt chuẩn và hữu ích cho tổ chức, xã hội. Bên cạnh đó, tác giả còn nhấn mạnh quan điểm về lao động chất lượng cao trong việc dám chấp nhận rủi ro, không ngừng nỗ lực học hỏi nhằm chinh phục các đỉnh cao mới. Đối với ý kiến của Phùng Rân (2008), tác giả cho rằng hai tiêu chí quan trọng cốt lõi nhằm đánh giá lao động chất lượng cao là phẩm chất đạo đức (thông qua cách đối xử với đồng nghiệp, cấp trên, cấp dưới và với công việc được giao phó); và năng lực cốt lõi (thông qua kiến thức chuyên môn, trình độ học vấn, kỹ năng giải quyết vấn đề trong công việc).
Ngoài ra, thông qua trình độ học vấn, năng lực chuyên môn, Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008) đã đưa ra quan điểm trong việc đề cập tầm quan trọng của sức khỏe khi đánh giá chất lượng người lao động. Từ các ý kiến về bộ tiêu chí đánh giá lao động chất lượng cao nêu trên, tác giả quyết định lựa chọn bốn chỉ tiêu nòng cốt xây dựng nên một lao động chất lượng như sau: Một là phẩm chất đạo đức và thái độ làm việc: đối với tổ chức nói chung 16 và khu vực công nói riêng, lòng yêu nước, yêu nghề cùng với thái độ sống và làm việc tích cực sẽ góp phần tạo nên nền tảng cho một cá nhân trong việc xây dựng tư tưởng và tinh thần muốn cống hiến cho tổ chức, cho nước nhà bằng cách đóng góp công sức của mình cho xã hội thông qua chính kết quả lao động của họ. Nhân lực có tính kỷ luật, tinh thần trách nhiệm cao trong công tác cũng như thái độ tôn trọng nguyên tắc nghề nghiệp sẽ làm nên một tổ chức mạnh, phát triển và một xã hội không ngừng phát triển đi lên. Theo Durand và cộng sự (2008), phẩm chất đạo đức của lao động còn quý giá hơn kỹ năng của họ và tinh thần làm việc, thái độ sống là yếu tố tiên quyết làm nên thành bại trong mọi vấn đề và ở bất kỳ một tổ chức nào.
Hai là sức khỏe thể chất, thể lực: trạng thái sức khỏe tốt với tình trạng không bệnh tật đi liền với tinh thần lạc quan là tiêu chí quan trọng tiếp theo làm nên một lao động chất lượng. Nguồn nhân lực dù thuộc nhóm lao động chân tay hay lao động trí óc cũng cần trang bị cho mình một thể chất mạnh khoẻ, trạng thái sức khỏe ở điều kiện tốt nhằm tạo cơ hội để lao động thể hiện tốt trong các công tác, nhiệm vụ được giao. Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2009), nguồn lao động càng khỏe mạnh về mặt thể chất lẫn tinh thần thì càng có nhiều khả năng, cơ hội phát triển bản thân, thực hiện công tác tốt với công suất cao trong khoảng thời gian dài và liên tục, từ đó tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng và gặt hái được nhiều thành tựu hơn cho tổ chức. Ba là học vấn và trình độ chuyên môn: kiến thức chuyên môn và trình độ học vấn liên quan mật thiết đến trí tuệ của người lao động bởi sự vận dụng của họ trong thực tiễn công việc.
Một lao động có tri thức và chuyên môn cao có xu hướng dễ dàng tích lũy được năng lực tư duy, suy đoán hiệu quả trong các tình huống xã hội, từ đó giải quyết được tốt các vấn đề phát sinh và đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm đạt được kết quả cao trong công việc. Bên cạnh đó, trình độ học vấn còn là cơ sở để phân loại chất lượng nguồn lao động trong một tổ chức cũng như giảm bớt gánh nặng thời gian và công sức cho nhà tuyển dụng khi muốn tìm kiếm một nhân tài cho doanh nghiệp. Bốn là kỹ năng vận dụng: việc áp dụng kiến thức hàn lâm thành hành động 17 mang tính thực tiễn có tác động trực tiếp lên công việc của tổ chức. Kỹ năng làm việc còn có thể được người lao động trau dồi thông qua kinh nghiệm, năng lực mang tính cụ thể, dễ quan sát trong hành động và kinh nghiệm làm việc.
Đây cũng chính là sự khác biệt giữa lao động trẻ và lao động giàu vốn kinh nghiệm trong một tổ chức. Nhờ có kỹ năng làm việc mà nhân viên có thể vận dụng trực tiếp, góp phần nâng cao kết quả sản xuất, kinh doanh của tổ chức, cải thiện hiệu quả chất lượng hoạt động của doanh nghiệp. Ngoài ra, lao động chất lượng cao cần được trau dồi thêm các kỹ năng mềm nhằm nâng cao khả năng của bản thân bao gồm kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng công nghệ thông tin, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng đàm phán, kỹ năng giải quyết vấn đề, v. Tóm lại, đối với mỗi lĩnh vực, ngành nghề cũng như mỗi địa phương sẽ có các tiêu chí riêng nhằm đánh giá chất lượng nguồn lao động sao cho phù hợp nhất.