Chương 1: Tổng quan (giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu) Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu (trình bày cơ sở lý thuyết về quản lý tri thức, sự thỏa mãn công việc và xây dựng mô hình lý thuyết cho nghiên cứu) Chương 3: Phương pháp nghiên cứu (trình bày phương pháp nghiên cứu để kiểm định thang đo và mô hình lý thuyết cùng giả thuyết đề ra) Chương 4: Kết quả nghiên cứu (trình bày phương pháp phân tích thông tin và kết quả nghiên cứu) Chương 5: Ý nghĩa và kết luận (tóm tắt những kết quả chính của nghiên cứu, những đóng góp, hàm ý của nghiên cứu cho nhà quản trị cũng như các hạn chế của nghiên cứu để định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo). 123doc 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Giới thiệu Chương 2 trình bày những nội dung lý thuyết làm cơ sở cho nghiên cứu này. Chương này cũng trình bày mô hình nghiên cứu và xây dựng giả thiết.
Quản lý tri thức 2. Tri thức Thuật ngữ “tri thức” xuất hiện từ thời Plato và Aristote và được nghiên cứu nhiều bởi các học giả hiện đại như Machlup (1962), Locke (1689), Drucker (1993), Nonaka (1991, 1995),… Các học giả này đã đưa ra những vấn đề xung quanh khái niệm tri thức, nguồn vốn hay tài sản trí tuệ của doanh nghiệp. Các khái niệm dữ liệu, thông tin, tri thức và sự thông thái của tổ chức cũng được hình thành và phát triển bởi các học giả trên. Machlup (1962) định nghĩa tri thức như một mặt hàng và cố gắng để đo lường mức độ của việc sản xuất và phân phối mặt hàng này trong một nền kinh tế hiện đại.
Ông phân biệt ra 5 loại tri thức: Tri thức thực tiễn. Tri thức trí tuệ, đó là văn hóa nói chung và thỏa mãn sự tò mò trí tuệ. Tri thức giải trí, đó là tri thức mang tính tò mò không sử dụng trí tuệ đáp ứng hoặc mong muốn để giải trí và kích thích cảm xúc. Tri thức tinh thần hoặc tôn giáo.
Tri thức không mong muốn, vô tình có được và không có ý định giữ lại. 123doc 7 Locke (1689) định nghĩa tri thức là nhận thức của sự đồng thuận hoặc bất đồng của hai ý tưởng. Ông đã phân chia tri thức làm 3 loại: Tri thức trực quan liên quan đến việc công nhận trực tiếp và ngay lập tức của sự đồng thuận hoặc bất đồng của hai ý tưởng. Nó mang lại sự chắc chắn hoàn hảo nhưng chỉ là hiếm khi có sẵn.
Ví dụ, tôi biết bằng trực giác là một con chó không giống như một con voi. Tri thức chỉ định là khi chúng ta nhận thức sự đồng thuận hoặc bất đồng gián tiếp thông qua một loạt các ý tưởng trung gian. Ví dụ, tôi biết rằng A lớn hơn B và B là lớn hơn so với C, vì vậy tôi biết chỉ định rằng A là lớn hơn C. Tri thức nhạy cảm là khi những ý tưởng mang tính cảm giác của chúng ta được gây ra bởi những thứ đang tồn tại ngay cả khi chúng ta không biết những gì tạo ra các ý tưởng trong chúng ta.Ví dụ, tôi đã biết rằng có một cái gì đó sản xuất mùi và tôi có thể ngửi thấy mùi.
Drucker (1993) định nghĩa tri thức là thông tin về thay đổi một cái gì đó hoặc ai đó bằng cách trở thành căn cứ cho hành động, hoặc bằng cách tạo ra một cá nhân (hoặc tổ chức) có khả năng hành động khác hay đạt hiệu quả cao hơn. Wiig (1996, trích trong Vũ Hồng Dân, 2007) định nghĩa tri thức là những cảm nhận, hiểu biết và bí quyết thực tế mà chúng ta có - là nguồn lực cơ bản cho phép chúng ta hành động một cách thông minh. Vũ Hồng Dân (2007) cho rằng mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau, nhưng các học giả đều có những đặc điểm chung khi nói về tri thức: tri thức được hình thành từ não người, con người sử dụng tri thức để tư duy và ra các quyết định tạo ra giá trị. Quá trình phát triển tri thức luôn gắn liền với học hỏi, đổi mới và sáng tạo.
Sẽ là hữu ích nếu phân biệt được các loại tri thức khác nhau: 123doc 8 Biết cái gì (know-what) là loại tri thức về sự kiện, ngày nay càng giảm tầm quan trọng trong xã hội thông tin và sức mạnh của Internet. Biết tại sao (know-why) là tri thức về thế giới tự nhiên, xã hội và suy nghĩ của con người. Biết ai đó (know-who) là về thế giới của các quan hệ xã hội, là tri thức về ai biết cái gì và ai đó được những gì. Việc biết được những người cần thiết đôi khi còn quan trọng đối với quản lý hơn là biết được các nguyên tắc quản lý.
Biết chỗ và biết thời gian (know-where và know-when) đang ngày càng quan trọng trong nền kinh tế linh hoạt và năng động. Biết cách làm (know-how) là về các kỹ năng và khả năng thực hành thành thạo công việc. Nhiều người theo chủ nghĩa thực chứng tin rằng tri thức là những “niềm tin được minh chứng là đúng” (justified beliefs). Nonaka và Takeuchi (1995, trích trong Nguyễn Hữu Lam, 2007) chỉ ra rằng “tri thức là quá trình năng động của con người trong việc minh chứng các niềm tin cá nhân với những “sự thật””.
Sự tiến hóa của nhận thức luận khoa học đã hình thành một cấu trúc thứ bậc của việc tạo ra tri thức: từ dữ liệu đến thông tin đến tri thức như được trình bày trong hình 2.1 có những khái niệm cần quan tâm đó là dữ liệu, thông tin, tri thức.1: Từ dữ liệu đến tri thức Ra quyết định Hoạch định các hành động Tri thức Thông tin được kết hợp với kinh nghiệm và sự phán quyết Hiểu biết các dạng mẫu, quy luật Thông tin Dữ liệu được đặt trong bối cảnh Hiểu biết các mối quan hệ Dữ liệu Số liệu hoặc sự kiện Nguồn: Serban và Luan (2002, trích trong Nguyễn Hữu Lam, 2007) Dữ liệu là một tập hợp các sự kiện, sự việc khách quan, rời rạc được trình bày mà không có sự phán quyết hoặc không gắn với bối cảnh. Dữ 123doc 10 liệu trở thành thông tin khi nó được phân loại, phân tích, tổng hợp và đặt vào một bối cảnh và trở nên có thể nhận thức được đối với người nhận. Thông tin là dữ liệu gắn với một sự liên hệ hoặc một mục đích. Thông tin biến thành tri thức khi nó được sử dụng để so sánh, đánh giá những kết cục, thiết lập những liên hệ và tiến hành một sự đối thoại.
Thông tin là dữ liệu trong bối cảnh mà nó có thể sử dụng cho việc ra quyết định. Dữ liệu luôn được sắp xếp để tạo ra ý nghĩa cho người nhận, nó có thể là văn bản, hình ảnh, phim hoặc một cuộc hội thoại với một người khác. Tri thức có thể được xem như thông tin mà nó đạt tới sự sáng tỏ, sự phán quyết và những giá trị. Trong nhiều trường hợp, tri thức thể hiện sự thật và vì vậy nó cung cấp, tạo ra những cơ sở đáng tin cậy cho hành động.
Tri thức là kho tàng của sự hiểu biết và các kỹ năng được tạo ra từ trí tuệ của con người (đặc biệt từ những người khác). Nonaka và Takeuchi (1995, trích trong Nguyễn Hữu Lam, 2007) đã phân biệt tri thức hiện hữu và tri thức ẩn tàng: Tri thức hiện hữu là các tri thức được hệ thống hóa trong các văn bản, tài liệu hoặc các báo cáo, chúng có thể được chuyển tải trong những ngôn ngữ chính thức và có hệ thống. Tri thức ẩn tàng là những tri thức không và rất khó được hệ thống hóa trong các văn bản, tài liệu, các tri thức này là cá nhân, gắn liền với bối cảnh và công việc cụ thể. Tri thức ẩn tàng là rất khó để hình thành các tài liệu, nhưng lại có tính vận hành cao trong bộ não của con người.
Sự phân biệt giữa tri thức hiện hữu và ẩn tàng được thể hiện qua Bảng 2.1 Sự phân biệt giữa tri thức hiện hữu và tri thức ẩn tàng Tri thức hiện hữu Tri thức ẩn tàng (Hồ sơ hóa) (Bí quyết gắn liền với con người) Dễ dàng được hệ thống hóa Mang tính cá nhân Đặc Có thể lưu trữ Mang tính bối cảnh cụ thể tính Có thể chuyển giao, truyền đạt Khó khăn trong việc chính thức hóa Được diễn đạt và chia sẻ một Rất khó tiếp nhận, truyền đạt và cách dễ dàng chia sẻ Các tài liệu chỉ dẫn hoạt động Các quá trình kinh doanh và truyền Nguồn Các chính sách và thủ tục của đạt phi chính thức tổ chức Các kinh nghiệm cá nhân Các báo cáo và cơ sở dữ liệu Sự thấu hiểu mang tính lịch sử Nguồn: Serban và Luan (2002, trích trong Nguyễn Hữu Lam, 2007) 2. Quản lý tri thức Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, sự mong đợi của khách hàng thường thay đổi nhanh chóng và cạnh tranh trên mức độ toàn cầu đang bùng phát, một trong những công cụ quan trọng nhất để được sử dụng để cạnh tranh là quản lý tri thức (Mehmet và cộng sự, 2008). Tri thức là một công cụ chiến lược cho các tổ chức hiện đại. Các khả năng sử dụng công cụ này xác định giới hạn tuổi thọ của các tổ chức.
Nói cách khác, tri thức có vai trò quan trọng trong lợi thế đầu tiên là nhìn thấy những cơ hội và các mối đe dọa trong môi trường bên ngoài và duy trì lợi thế này cho một thời gian dài (Barca, 2002, trích trong Mehmet và cộng sự, 123doc 12 2008). Không chỉ có đủ tri thức là có thể thành công bởi vì tài sản có giá trị này nên được quản lý bằng cách nào đó và điều này chỉ có thể thông qua cách tiếp cận là quản lý tri thức. Khái niệm “quản lý tri thức” lần đầu tiên được đề cập đến từ đầu những năm 80. Rumizen (2002), tác giả cuốn “The complete Idiot’s guide to Knowledge Management”, cho rằng tiến sỹ Sveiby, người Thụy Điển, là người đầu tiên đưa ra khái niệm tài sản tri thức doanh nghiệp vào năm 1979 nhưng không được đón nhận.
Và đến đầu những năm 90 thì quản lý tri thức mới thực sự “nở rộ” như một công cụ mới trong quản lý. Stewart được xem như là người đầu tiên viết về quản lý tri thức trên các tạp chí về doanh nghiệp với bài viết “Brainpower” trên tạp chí kinh tế nổi tiếng “Fortune” vào năm 1991.