Mở đầu Chương này trình bày lý do chọn đề tài; mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu 123doc 6 Nội dung chương này trình bày các khái niệm có liên quan như tri thức, CSTT, vai trò của CSTT và CSTT trong khu vực công; các cơ sở lý thuyết; lược khảo các nghiên cứu trước; đưa ra mô hình nghiên cứu và đề xuất các giả thuyết nghiên cứu. - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này giới thệu quy trình nghiên cứu, cách chọn mẫu, xác định kích thước mẫu, quá trình thu thập dữ liệu và kỹ thuật phân tích dữ liệu. - Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày kết quả nghiên cứu, kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá; kết quả hồi quy và thảo luận đánh giá kết quả nghiên cứu. - Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Khái quát những kết quả quan trọng của đề tài, các đóng góp của đề tài; trình bày các hàm ý quản trị nhằm thúc đẩy CSTT giữa cán bộ, công chức trong ngành Thanhh tra và các hạn chế, hướng nghiên cứu tiếp theo.
123doc 7 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Trong chương này, nghiên cứu sẽ giới thiệu cơ sở lý thuyết của nghiên cứu này gồm: (1) các khái niệm về tri thức, CSTT, vai trò của việc CSTT, CSTT trong khu vực công, (2) Các lý thuyết nền có liên quan (3) Lược khảo các nghiên cứu trước, (4) Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu.1 Các khái niệm có liên quan 2.1 Tri thức Có rất nhiều khái niệm và cách hiểu khác nhau về tri thức. Một số nhà nghiên cứu như Kogut & Zander (1992), Stewart (1997) đồng nhất thuật ngữ tri thức và thông tin. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu lại chỉ ra sự khác biệt giữa hai thuật ngữ này (Blackler, 1995; Davenport & Prusak, 1998; Pemberton, 1998, Dalkir, 2011).
Theo Dalkir (2011) thì thông tin đơn giản là một tập hợp các thông điệp, còn tri thức thì phức tạp hơn đó là dòng chảy của kinh nghiệm, giá trị, thông tin theo ngữ cảnh, tri thức chuyên sâu. Nonaka & Takeuchi (1995) chỉ ra ba đặc điểm nhằm phân biệt giữa tri thức và thông tin: (i) tri thức thể hiện một quan điểm cụ thể, dự định của cá nhân, do đó, tri thức thuộc về niềm tin và cam kết; (ii) tri thức thường liên quan đến hành động và kết quả cụ thể nào đó; (iii) tri thức gắn liền với bối cảnh và mối quan hệ cụ thể. Davenport & Prusak (1998) định nghĩa tri thức là tập hợp những thông tin, những giá trị, kinh nghiệm, kỹ năng chuyên sâu của từng cá nhân theo hoàn cảnh cụ thể để xây dựng những cách thức đánh giá và từ đó tạo ra những tri thức mới. Tri thức là những ý tưởng hay sự hiểu biết được một người sở hữu, sử dụng để thực hiện các hành động hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu (Grey, 2007).
Ở một góc độ khác, tri thức là thông tin trong tâm trí của mỗi người, nó được cá nhân hóa (mới, độc đáo, chính xác, hữu ích hay không) tùy theo sự lập luận, cách giải thích và cách đánh giá của cá nhân đó (Alavin & Leidner, 2001), chịu ảnh hưởng bởi kiến thức, tích cách của cá nhân đó (Lee & Yang, 2000). Wang & Noe (2010) cho rằng tri thức là thông tin bởi cá nhân bao gồm ý tưởng, sự kiện, chuyên môn và quyết định có liên quan đến cá nhân. Nonaka và cộng sự (2015) quan niệm tri thức là một dòng chảy (flow) thông tin liên tục có tổ chức, là một quá trình 123doc 8 (process) năng động của con người/xã hội trong việc xác thực niềm tin cá nhân trở thành chân lý. Bên cạnh lao động, vốn và công nghệ thì tri thức là nguồn tài nguyên quan trọng của tổ chức.
Tuy nhiên không giống như những nguồn tài nguyên khác, tri thức là nguồn tài nguyên vô tận, ngày càng được mở rộng, chứ không cạn kiệt (Jain & cộng sự, 2007). Nó giúp công ty tạo ra các lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ trong nền kinh tế thị trường năng động (Foss & Peterson, 2002); giúp cho tổ chức phát triển bền vững (Mohajan, 2016). Vì vậy, tri thức đã trở thành những tài sản quan trọng và có giá trị nhất của các tổ chức. Các tổ chức cần phải quản lý kiến thức một cách hiệu quả (Ipe, 2003; Faucher, 2010).2 Phân loại tri thức Có nhiều cách để tiến hành phân loại tri thức.
Leach & cộng sự (2003) tri thức có thể phân loại thành tri thức khai báo (declarative knowledge) và tri thức thủ tục (procedural knowledge). Tri thức khai báo về cơ bản là loại tri thức gợi mở, liên quan đến thông tin trong thực tế (Sahdra & Thagard, 2003; Phillips & Carr, 1987). Đó là loại tri thức mà chúng ta nhận thức được và có thể diễn đạt một cách rõ ràng về nó (Anderson, 1995). Còn tri thức thủ tục là tri thức liên quan đến quá trình, trình tự các bước để hoàn thành một số mục tiêu nhất định (Lansky, 1986; Baumard, 1999, Star, 2002).
Các nghiên cứu của Ipe (2003), Sharifuddin & Rowland (2004), Liyanage & cộng sự (2009) phân loại tri thức thành tri thức tường minh (Explixit knowledge) và tri thức ngầm (Tacit knowledge). Tuy nhiên, có một số ý kiến xác định một dạng kiến thức thứ ba được gọi là kiến thức tiềm năng (implicit knowledge) (Bergeron, 2003). Tri thức tường minh (Explixit knowledge) là tri thức có cấu trúc và được mã hóa, có thể dễ dàng truyền đạt và lưu trữ. Nó thường được chuyển tải trong các ngôn ngữ chính thức, hệ thống hóa trong các văn bản tài liệu, các báo cáo.
Tri thức hiện có hình thức, có hệ thông và có thể dễ dàng thể hiện trong các thông số kỹ thuật của sản phẩm, các công thức khoa học, hoặc các chương trình máy tính (Nonaka & cộng sự, 2015). Tri thức ngầm (Tacit knowledge) bắt nguồn từ kinh nghiệm và giá trị của một cá nhân, khó có thể hình thức hóa, do đó rất khó truyền đạt cho những người khác. Tri thức ẩn bao gồm một phần của các kỹ năng kỹ thuật, các kỹ năng không chính thức, khó lưu giữ. 123doc 9 Điều này bao gồm các hình thức tinh thần, niềm tin và quan điểm mà chúng ta phải công nhận nó, không dễ dàng nói rõ được nó.
Tri thức ẩn không diễn đạt trực tiếp thành tri thức hiện mà được chuyển đổi trong bối cảnh của người nhận thức, vào kỹ năng và tri thức chuyên môn, vào thời gian và phương tiện hoặc mức độ sẵn sàng CSTT với người khác (Boshoff, 2008). Tri thức tiềm năng là loại tri thức nằm giữa tri thức ngầm và tri thức tường minh (Bergeron, 2003). Cũng giống như tri thức ngầm, tri thức tiềm năng tồn tại ở mức độ tiềm thức, nhưng nó có thể được trích xuất thông qua quá trình kỹ thuật. Mặc dù có sự khác biệt nhất định, nhưng hầu hết các nghiên cứu chỉ tập trung thảo luận, phân tích hai loại tri thức là tri thức tường minh và tri thức ẩn.3 Chia sẻ tri thức Các nghiên cứu của Bartol & Srivastava (2002), Sharratt & Usoro (2003) Wang & Noe (2010) khẳng định tri thức có thể chia sẻ được.
Như đã đề cập ở trên, tri thức là một dòng chảy thông tin liên tục có tổ chức, là một quá trình năng động của con người (Nonaka & cộng sự, 2015). Do đó, CSTT liên quan đến dòng chảy của tri thức giữa các nhân viên (Pee & cộng sự, 2016). Cá nhân đóng vai trò là trung tâm trong quá trình CSTT (King, 2011). CSTT là cơ chế mà thông qua đó tri thức được truyền tải từ người này sang người khác (Kuo, Kuo & Ho, 2014), đây là một quá trình hai chiều, trong đó các cá nhân trao đổi tri thức lẫn nhau và cùng tạo ra tri thức mới (Van den Hoof, Shouten & Simonovski, 2012).
CSTT là yếu tố quan trọng cho sự phát triển bền vững của tổ chức. Theo Ford (2001) thì CSTT được định nghĩa là các hoạt động có liên quan trong việc phổ biến, chuyển giao tri thức giữa các cá nhân, nhóm, tổ chức. CSTT là việc thông tin được cung cấp để mọi người cùng làm việc và giải quyết những vấn đề nhất định, phát triển ý tưởng mới, đề xuất sáng kiến và thực hiện các chính sách, quy trình (Cummings 2004). Maponya (2004) chỉ ra rằng, CSTT dựa trên kinh nghiệm thu được trong quá trình làm việc trong và ngoài tổ chức.
Nếu tri thức có sẵn trong các thành viên, tổ chức sẽ giảm thiểu tối đa các quyết định trùng lặp và giải quyết vấn đề sẽ nhanh hơn. Các hoạt động CSTT hiệu quả sẽ giúp tái sử dụng tri thức của từng cá nhân và nâng cao tri thức lên một 123doc 10 tấm cao mới. Các tổ chức không thể tự tạo ra tri thức vì tri thức được tạo ra thông qua sự giao tiếp, tương tác giữa các cá nhân và thông qua sự tích lũy kinh nghiệm cá nhân (Goh và Sanldu, 2013; Nonaka & cộng sự, 2015; Small & Sage, 2005). Và chỉ có thể tận dụng tri thức nếu mọi người sẵn sàng CSTT với người khác (Zhang & Ng, 2012), và phổ biến trong toàn tổ chức (Dalkir, 2011).
Mở rộng hơn thì CSTT là một nền văn hoá tương tác xã hội, liên quan đến việc trao đổi kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng của nhân viên thông qua toàn bộ bộ phận hoặc tổ chức (Lin, 2007). CSTT xảy ra khi các thành viên tổ chức chia sẻ với nhau về thông tin, ý tưởng, đề xuất và chuyên môn liên quan đến tổ chức (Tohidinia & Mosakhani, 2010); là một hành động làm cho tri thức trở thành tri thức của những người khác trong tổ chức (Suppiah & Sandhu, 2011). Thông qua quá trình đó mà các cá nhân trao đổi lẫn nhau kiến thức (tiềm ẩn và tường minh) và cùng nhau tạo ra tri thức mới (Sandhu & cộng sự, 2011) và làm sáng tỏ tri thức trong bối cảnh mới (Ramayah & cộng sự, 2013). - Các hình thức CSTT Nghiên cứu Bartol & Srivastava (2002) phân chia các hình thức CSTT thành bốn dạng cụ thể như sau: + Tường minh - Tường minh: là một tập hợp các tri thức tường minh sẵn có, tồn tại và tạo ra tri thức tương minh khác.
Việc này được thể hiện bằng cách sao lưu, tổng hợp hay chuyển giao dữ liệu. + Ẩn - Ẩn: Khi người chia sẻ giao tiếp trực tiếp với người tiếp nhận (ví dụ như giảng dạy, trao đổi…) thì tri thức ẩn của người này sẽ chuyển giao ngay thành tri thức ẩn của người khác mà không qua trung gian.