Chương 1 trình bày tổng quan về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của nghiên cứu. 9 Chƣơng 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Tri thức Nonaka & Takeuchi (1995) cho rằng, tri thức là quá trình sống, lao động, học tập và làm việc của một con người để chứng minh niềm tin của mình về những vấn đề mình cho là đúng đắn. Davenport & Prusak (1998) định nghĩa: Tri thức là tập hợp những kinh nghiệm, giá trị, thông tin và sự hiểu biết sâu sắc của mỗi người khi kết hợp lại với nhau sẽ tạo ra những kinh nghiệm mới và thông tin mới.
Những người có tri thức có khả năng sáng tạo ra được tri thức mới và ứng dụng tri thức đó vào cuộc sống thông qua việc sử dụng đầy đủ các thông tin và dữ liệu kết hợp với khả năng quan sát, phân tích đánh giá, suy luận cùng với ý tưởng và động lực làm việc của con người. Tri thức không chỉ chứa đựng trong các văn bản, tài liệu, kho lưu trữ dữ liệu mà còn tồn tại trong các thủ tục, quy trình, thói quen làm việc và quy định của tổ chức đó. Tri thức được tạo ra bắt nguồn từ sự tiến hóa của nhận thức luận khoa học đã hình thành cấu trúc thứ bậc: từ dữ liệu đến thông tin, rồi từ thông tin đến tri thức. Tri thức và thông tin thường hay bị nhầm lẫn với nhau, tuy nhiên về bản chất tri thức và thông tin thì hoàn toàn khác nhau (Grey, 2007).
Dữ liệu là một tập hợp các sự việc, sự kiện, hiện tượng khách quan, rời rạc, chưa được xâu chuỗi, liên kết. Thông tin là một tập hợp các dữ liệu hình thành cho từng mục đích được xác định rõ ràng. Tri thức là một quá trình tổng hợp các thông tin, dữ liệu qua quá trình sàn lọc, phân tích, đánh giá, so sánh và chia sẻ sự hiểu biết, là tài sản bên trong của mỗi con người. Thường thì người ta có thể dễ dàng chia sẻ thông tin với nhau nhưng không dễ gì chia sẻ tri thức.
Theo Bollinger và cộng sự (2001) tri thức là khả năng nhận thức, mức độ hiểu biết của con người khi đứng trước nhiều nguồn thông tin khác nhau, thông qua quá trình tìm kiếm, thu thập và tiếp nhận thông tin cùng với những kinh nghiệm mà con người tích lũy được. Về phân loại, tri thức có hai loại đó là tri thức tường minh 10 (Explicit knowledge) và tri thức tiềm ẩn (Tacit knowledge). Cả tri thức tường minh và tri thức tiềm ẩn đều có thể chia sẻ được, nhưng hình thức chia sẻ thì không giống nhau. Tri thức tường minh có thể nhìn thấy, nghe, đọc, sao chép, phân loại, chuyển giao như thông tin và có thể minh họa cho người khác dễ dàng hiểu được vì vậy có thể chia sẻ thông qua giao tiếp bằng ngôn ngữ.
Tri thức tiềm ẩn rất khó diễn đạt thông qua ngôn ngữ mà có thể cảm nhận được qua cảm xúc, hành vi giao tiếp phi ngôn ngữ vì vậy có thể chia sẻ được thông qua cử chỉ, quan sát (Bartol và Srivastava, 2002). Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tri thức nhưng chung quy lại theo Beccrra – Fememdez & ctg (2004) thì, tri thức là sự lý giải về mối liên hệ giữa các nội dung có liên quan với nhau trong một vấn đề cụ thể. Tri thức là yếu tố quan trọng, cung cấp, tạo ra những cơ sở đáng tin cậy cho hành động, khi áp dụng tri thức vào hoạt động sẽ tạo ra nhiều sản phẩm và tăng giá trị trong sản phẩm, dịch vụ (Martensson, 2000). Grey (2007) cho rằng tri thức là sự hiểu biết của một cá nhân; khi cá nhân có được sự hiểu biết và đem sự hiểu biết đó ra hành động để đạt được mục tiêu đã đề ra.
Tri thức được xem là nguồn tài nguyên đặt biệt, vô tận, khó thay thế, không giống những nguồn tài nguyên khác như khoáng sản, sức lao động, máy móc, tiền bạc, động thực vật…bị tiêu hao và mất đi trong quá trình khai thác, sử dụng. Sử dụng tri thức càng nhiều khả năng sáng tạo ra tri thức mới càng cao. Chia sẻ tri thức Theo Davenport & Prusak (1998) chia sẻ tri thức là quá trình trao đổi sự hiểu biết lẫn nhau giữa các cá nhân hay một nhóm người trong tổ chức, nhằm cải thiện hiện trạng, tạo ra sự thay đổi tích cực, nguồn lực có giá trị cho tổ chức. Catherin Elizabeth (2000) chia sẻ tri thức bao gồm các hành vi liên quan đến việc trao đổi thông tin mang tính chất trao đổi qua lại hai chiều, không giống như chia sẻ thông tin chỉ diễn ra theo một hướng, một bên cung cấp và một bên nhận.
Theo Cummings (2004) chia sẻ tri thức là việc cung cấp thông tin để mọi người cùng tham gia giải quyết những vấn đề nhất định, phát triển ý tưởng mới, tư duy, đề xuất 11 sáng kiến hoặc thực hiện các quy trình, quy định. Ford (2001) chia sẻ tri thức là việc làm cho tri thức được lan truyền, phổ biến, chuyển giao giữa các cá nhân, nhóm người hay tổ chức. Mark Sharratt & Abel Usoro (2003) chia sẻ tri thức là sự chuyển giao, trao đổi nguồn tài nguyên từ bên cho sang bên nhận. & cộng sự (2005) cho rằng, chia sẻ tri thức là một nội dung trong hoạt động quản lý tri thức; các cá nhân trong tổ chức sẵn sàng chia sẻ với người khác những tri thức mà họ có được để mọi người có thể khai thác, sử dụng.
Chia sẻ tri thức là việc làm cho tri thức trở nên có giá trị hơn và mọi nhân viên trong tổ chức đều sử dụng được, người chia sẻ tri thức sẽ không từ bỏ hoặc mất đi tri thức mà họ có được, khi chia sẻ tri thức sẽ trở thành tài sản thuộc sở hữu chung giữa người chia sẻ và người nhận (IPE, 2003). Suppiah & Sandhu (2011) chia sẻ tri thức là việc làm cho tri thức cá nhân trở thành tri thức chung của mọi người, của tổ chức. Hendriks (1999) chia sẻ tri thức có vai trò rất quan trọng vì nó tạo ra sự gắn kết giữa cá nhân với tổ chức, tri thức cá nhân sẽ trở thành tri thức của tổ chức, nhờ vậy mà nó được chuyển hóa thành vật chất có giá trị về mặt kinh tế và lợi thế cạnh tranh cho các tổ chức. Chia sẻ tri thức là phương tiện để các nhân viên ứng dụng tri thức, đổi mới và nâng cao lợi thế cạnh tranh của công ty (Jackson, Chuang, harden, Jiang và Joseph, 2006).
Cohen và Levinthal (1990) thì cho rằng sự cộng tác, phối hợp giữa các cá nhân có sự hiểu biết phong phú và đa dạng sẽ thúc đẩy tiến trình phát triển, đổi mới của tổ chức nhanh hơn là khả năng của một cá nhân. Boland và Tenkasi (1995) cũng đồng tình với ý kiến này và chỉ ra sự thành công và lợi thế cạnh tranh của các tổ chức có được bắt nguồn từ sự hợp tác của các cá nhân có tri thức. Việc chia sẻ tri thức có ý nghĩa quyết định đến chiến lược phát triển nguồn nhân lực của tổ chức. Từ lâu, việc chia sẻ tri thức giữa các nhân viên, nhóm, ban, bộ phận làm việc với nhau đã trở nên cần thiết cho tổ chức.
Thông qua chia sẻ tri thức giữa các cá nhân sẽ cùng nhau tạo ra tri thức mới (Sandhu và cộng sự, 2011) và làm sáng tỏ tri thức mới trong bối cảnh mới (Ramayah và cộng sự, 2013). Von Krough, 12 Ichijo và Nonaka (2000) cho rằng chia sẻ tri thức góp phần tạo ra tri thức mới và sử dụng tri thức để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Trong khu vực công, việc chia sẻ tri thức có nhiều thuận lợi và khó khăn nhất định. Liebowitz (2004) cho rằng chia sẽ tri thức trong khu vực công gặp nhiều khó khăn và trở ngại, vì mọi người xem tri thức gắn liền với quyền lực và liên quan đến cơ hội thăng tiến, từ đó sinh ra tâm lý và thái độ phòng hờ của cán bộ, nhân viên khi đề cập đến việc chia sẻ tri thức.
Ngoài ra, qua cách tiếp cận khác nhau với việc chia sẻ tri thức trong khu vực tư và khu vực công Chiem (2001) chỉ ra rằng việc chia sẻ tri thức trong khu vực công bị ảnh hưởng tiêu cực do bộ máy quan liêu. Văn hóa tổ chức trong khu vực công quy trách nhiệm quản trị tri thức thuộc về nhà quản lý, nhân viên không có trách nhiệm phải chia sẻ tri thức trong tổ chức. Mặt khác Chiem (2001) cũng thừa nhận rằng khu vực công cũng có những thuận lợi để chia sẻ tri thức. Thứ nhất, tổ chức công ít lo ngại về việc tiết lộ thông tin bí mật hơn khu vực tư.
Thứ hai, chia sẻ tri thức trong khu vực công hướng đến sự phục vụ của cán bộ, công chức cho cộng đồng, xã hội, trong khi khu vực tư, hướng về lợi nhuận. Hành vi chia sẻ tri thức, theo Tsui và các cộng sự (2006) định nghĩa, là hành vi trao đổi tri thức, tức là trao đổi kỹ năng, kinh nghiệm và sự hiểu biết giữa các cá nhân trong tổ chức. Geraint (1998) cho rằng chia sẻ tri thức là chia sẻ sự hiểu biết và kinh nghiệm để giúp cán bộ nhân viên hoàn thành công việc một cách nhanh nhất nhưng ít tốn kém về thời gian và chi phí nhất. Theo Maponya (2004) trong quá trình làm việc kể cả bên trong hay bên ngoài tổ chức thì hành vi chia sẻ tri thức sẽ thu được những kinh nghiệm.
Nếu nhân viên có sẵn tri thức, tổ chức sẽ tránh được việc đưa ra các quyết định trùng lặp và giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng. Các hoạt động chia sẻ tri thức hiệu quả giúp tái sử dụng tri thức của từng cá nhân và nâng cao giá trị của tri thức. Tsui và các cộng sự (2006) định nghĩa các cơ chế của hành vi chia sẻ tri thức trong tổ chức bao gồm: Đóng góp tri thức vào cơ sở dữ liệu của tổ chức; chia sẻ tri thức trực tiếp hay gián tiếp giữa các thành viên trong và ngoài nhóm làm việc; chia sẻ tri thức trong các hoạt động xã hội. Cũng như tri thức, chia sẻ tri thức cũng 13 có thể nghe, nhìn thấy được qua giao tiếp bằng lời nói, ngôn ngữ, chữ viết, tài liệu hoặc không nhìn thấy được thông qua các hoạt động xã hội, quan sát, giao tiếp phi ngôn ngữ.