Chương 1. Tổng quan về đề tải Giới thiệu tông quan về đề tài nghiên cứu bao gồm ly do chon dé tai, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương này trình bày các lý thuyết nẻn, các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài, các khái niệm: Tri thức, chia sẻ trỉ thức, chia sẻ trỉ thức trong khu vực công; mối quan hệ của các yếu tố ảnh hưởng đến chia sẻ tri thức. Trên cơ sở đưa ra mô.
hình nghiên cứu và phát biểu các giả thuyết. Phương pháp nghiên cứu Trình bày quy trình nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu, cách chọn mẫu, phương. pháp kiểm định thang đo, kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu.
Trình bày kết quả kiểm định độ tin cậy của các thang đo; phân tích khám phá các nhân tố; kết quả hồi quy tuyến tính để khăng định mối quan hệ giữa các biến; phân tích thực trạng của các yếu tổ ảnh hưởng đến chia sé tri thức. Kết luận và kiến nghị Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu; đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đây. chia sẻ tri thức và các hạn chế cũng như hướng nghiên cứu mới của đề tài. 6 CHUONG 2: CO SO LY THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Lý thuyết nền của đề tài nghiên cứu Nghiên cứu về tri thức đã xuất hiện từ những năm 1950s nhưng cho đến cuối những năm 1080s và đầu 1900s, lý thu doanh nghiệp từ góc nhìn tri thức (knowledge-based theory of the fïrm hoặc ngắn gọn hon la knowledge-based view, viết tắt là KBV) mới chính thức ra đời và được công nhận. Triết học và nhận thức. luận, lý thuyết học tập của tô chức, lý thuyết tiến hóa về sự thay đổi kinh tế và lý. thuyết quản trị dựa trên nguồn lực được coi là những nguồn gốc hình thành nên lý thuyết KBV.
Các tác giả có đóng góp to lớn nhất đối với KBV có thể kẻ đến là Kogut và Zander (1992), Nonaka (1994, 1995) và Grant (1996). Mỗi một (nhóm) tác giả phát triển một phiên bản cụ thể về lý thuyết này. Bên cạnh luận điểm chung như tri thức đóng vai trò quan trọng nhất đối với một tổ chức và năng lực tiếp nhận, tích hợp, lưu trữ, chia sẻ và áp dụng tri thức là khả năng quan trọng nhất đề xây dựng và duy trì lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thì những phiên bản này cũng có một số nét đặc. trưng riêng dựa trên thiết kế nghiên cứu, bằng chứng thực tế thu được và quan điểm của người phát triển lý thuyết.
Cho đến nay, KBV đã và đang là một trong những lý thuyết được áp dụng. rộng rãi nhất trong các nghiên cứu về quản trị hiện đại. Có rất nhiều công trình. nghiên cứu thực nghiệm lấy KBV làm lý thuyết nền tảng.
Phần lớn trong số đó được thiết kế dọc theo các qui trình tri thức như qui trình tìm kiếm tri thức, chuyển giao tri thức, tiếp nhận tri thức, tích hợp tri thức và sáng tạo trỉ thức. Lý thuyết quản trị dựa trên nguồn lực (RBV) đã từ lâu là một trong những lý. thuyết chiếm ưu thế nhất về quản trị chiến lược. Theo lý thuyết này, để có thể thực hiện những hành đông chiến lược nhằm định vị lại một doanh nghiệp thì đòi hỏi doanh nghiệp đó phải có những nguồn lực, năng lực và khả năng nhất định (Wenerfelt, 1984).
Những nguồn lực có giá trị, khan hiếm, không thể bắt chước, và không thể thay thế (Barney, 1991) và khả năng (Leonard-Barton, 1992) hay năng. 1 lực cốt lõi của tổ chức (Prahalad & Hanel, 1990) là các nguồn tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp. Khi thời đại công nghiệp nhường chỗ cho thời đại thông tỉn thì RBV đã tạo đà phát triển cho KBV noi mà trí thức, đặc biệt là tri thức ấn được công nhận là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng nhất (Grant & Baden-Fuller, 1995; Grant, 1996a; 1996b; 1997). Những học giả này đã sử dụng quan điểm về nguồn lực.
và khả năng để giải thích cho mỗi quan hệ giữa việc tích hợp tri thức trong một doanh nghiệp và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó. Theo ho, tích hợp trí thức trong một doanh nghiệp sẽ tạo ra khả năng của doanh nghiệp, và khả năng này đến lượt nó sẽ quyết định lợi thế cạnh tranh. Tương tự, Kogut & Zander (1992) cho ring tri thức của doanh nghiệp sẽ dẫn đến một tập hợp các khả năng làm tăng cường cơ hội phát triển và tồn tại của doanh nghiệp. Cook & Brown (1999) ciing cho ring tri thức và hiểu biết là những bộ phận cấu thành nên năng lực của doanh nghiệp đó.
Lý thuyết doanh nghiệp từ góc nhin tri thức của Grant (1996a; 1996b; 1997) và đồng nghiệp (Grant & Baden-Fuller, 1995) làm rõ và củng cố thêm nền tảng lý. thuyết của KBV khiến lý thuyết này được chấp nhận rộng rãi hơn. chính trong công trình của ông và đồng nghiệp là: Trï thức là nguồn lực sản xuất áp đảo quan trọng trong việc đóng góp vào giá trị gia tăng và tầm quan trọng chiến lược. Tri thức bao gồm thông tin, công nghệ, bí quyết và kỹ năng.
Các loại tri thức khác nhau sẽ khác nhau về khả năng chuyển giao. Có sự khác biệt quan trong giữa "trì thức hiện” - là loại trí thức có khả năng, diễn đạt bằng lời (và do đó có thể chuyển giao với chỉ phí thấp) và "tri thức ân" - là loại tri thức chỉ được thể hiện ra khi đang áp dụng và không tuân theo việc chuyển giao. Mức độ dễ dàng trong chuyển giao trì thức cũng phụ thuộc vào năng lực của người nhận trong việc tổng hợp các đơn vị trỉ thức. Các khái niệm nghiên cứu 2.1 Tri thức Nghiên cứu về tri thức có lịch sử từ lâu đời.
Tri thức là đối tượng nghiên cứu của triết học và nhận thức luận thời Hy Lạp cổ đại và được nhấn mạnh rất nhiều trong triết học phương Tây (Kakabadse, Kakabadse & Kouzmin, 2003) trong đó các công trình của triết gia Polanyi (1958; 1966) có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hiểu biết về tri thức cá nhân nói riêng và tri thức nói chung trong sự tồn tại của các tổ chức cũng như trong đời sống kinh tế. Một số tư duy quản trị tri thức hiện đại (ví dụ: Nonaka, 1994; Nonaka & Takeuchi, 199: ‘soft, 2014) đã được phát triển trên cơ sở những khái niệm này. Theo định nghĩa của Nonaka, tri thức là một quá trình điều chỉnh niềm tin cá nhân hướng đến chân lí. Từ định nghĩa này, Nonaka viết: Tri thức được sinh ra trong quá trình tương tác giữa người với người, mang tính chủ quan, tính quá trình, tính thẩm mĩ và được tạo ra trong thực hành.
Từ các nhà nghiên cứu khác, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tri thức. ‘Theo Davenport và Prusak (1998), trì thức là một dạng tổng hợp các kinh nghiệm, giá trị, các thông tin ngữ cảnh, các hiểu biết chuyên sâu tạo nên khung sườn đánh giá và thu nạp thêm kinh nghiệm và các thông tin mới. Trong các tổ chức, trỉ thức không chi được hàm chứa dưới dạng văn bản và kho lưu trữ mà còn hiện diện trong các thói quen, các thủ tục, quy trình, luật lệ và nguyên tắc tổ chức. Theo Alavi và Leidner (2001), trì thức là thông tin trong tâm trí của mỗi người, nó là thông tin được cá nhân hóa (có thể mới hay không, độc đáo, chính xác, hữu ích) liên quan đến sự lập luận, cách giải thích và cách đánh giá của cá nhân đó.
Theo Bollinger và cộng sự (2001), tri thức là sự nhận thức, sự hiểu biết có. được từ sự pha trộn của nhiều nguồn thông tin, kinh nghiệm tích lũy, kỹ năng, nguyên tắc, quy tắc, giá trị, cái nhìn sâu sắc, nghiên cứu, điều tra, quan sát. Nghiên cứu cũng chỉ ra trong các cách phân loại trì thức, đáng chú ý và quan trọng nhất đó là hai loại: trí thức tường minh (Explieit knowledge) và tri thức tiềm ẩn (Tacit knowledge) (Bollinger va cng sy, 2001). Tri thức tường minh có thé duge ghi chép, phân loại, chuyển giao như thông tin và có thé minh hoa cho những người khác thông qua các biểu mẫu, giải thích và các tín hiệu chia sẻ.
Ngược lại, trỉ thức lềm ẩn là tri thức mà dựa trên các kinh nghiệm tích lũy và học tập của một ngưc và do đó nó trở nên khó khăn để tái sản xuất hoặc chia sẻ với những người khác. Trỉ thức tiềm ẩn rất khó được diễn đạt bằng ngôn ngữ chính thức mà thường thuộc về một cá nhân riêng biệt (Bartol và Srivastava, 2002). Trỉ thức tường minh va tiém an đều có thể được chia sẻ, chia sẻ tri thức tường minh thông qua giao tiếp bằng lời nói, chia sẻ tri thức tiềm ẩn thông qua việc xã hội hóa, quan sát hay học việc (Bartol và Srivastava, 2002) 2.2 Chia sé tri thire Nghiên cứu của Davenport và Prusak (1998) cho rằng chia sẻ tri thức là quá. trình trao đổi tri thức giữa các cá nhân vả nhóm người nhằm tạo các mối quan hệ, tạo ra sự đôi mới, tạo ra một nguồn lực có giá trị cho tô chức.
Chia sẻ có thể được định nị là việc phổ biến thông tin và kiến thức trong. toàn tô chức (Ling, Sandhu và Jain, 2009). Chia sẻ kiến thức đóng một vai trò thiết yếu trong quá trình tổ chức vì nó giúp tổ chức chuyển giao các ý tưởng hoặc giải pháp mới (Islam và cộng sự, 201 1). Khi các nhân viên tương tác với nhau để hình thành ý tưởng, điều đó sẽ thúc đây việc chia sẻ kiến thức giữa họ.
Chia sẻ kiến thức giúp tạo ra luồng kiến thức giữa cá nhân, nhóm và tổ chức. Chia sẻ kiến thức để tích hợp kiến thức diễn ra từ một cá nhân đến nhiều người khác cùng một lúc (“phát sóng”). Mặt khác, chia sẻ kiến thức như một phần của sản xuất tri thức diễn ra nhiều hơn dưới hình thức thảo luận nhóm, cùng nhau giải quyết một vấn đề: nhân viên cùng. nhau xác định vấn đề, chia sẻ quan điểm và ý kiến của họ, chia sẻ thông tin để cùng.
nhau tìm ra giải pháp (Bakker và công sự, 2006). Với các lý thuyết nêu trên cho thấy có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhiều. nghiên cứu về hoạt động chia sẻ tri thức của nhân viên. Nhưng tất cả đều có điểm -10- tương đồng về việc chia sẻ tri thức sẽ không chỉ làm giàu tri thức cho các cá nhân mà còn là động lực cho việc không ngừng học hỏi của nhân viên trong tổ chức.3 Chia sé trì thức trong khu vực công.
Các nghiên cứu ban đầu về chia sẻ tri thức trong khu vực công đặc biệt tập.