LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Năng suất lao động là chỉ tiêu quan trọng trong kinh tế, phản ánh năng lực và hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất. Ở tầm vĩ mô, năng suất lao động là chỉ tiêu đầu tiên để xác định mức độ phát triển của một quốc gia, quốc gia nào có được NSLĐ cao đồng nghĩa với việc quốc gia đấy có khả năng cạnh tranh, thu nhập của người dân cao hơn so với các quốc gia có năng suất thấp hơn. Ở cấp độ doanh nghiệp, muốn hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận, các doanh nghiệp phải tìm cách thức để cải thiện năng suất của mình.
Đối với mỗi cá nhân, đây là chỉ tiêu phản ánh khả năng lao động sản xuất của từng người, qua đó tác động trực tiếp tới thu nhập và mức sống của người lao động. Có rất nhiều yếu tố tác động tới NSLĐ, trong đó một yếu tố đã được nhiều nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm quan tâm từ lâu đó chính là giáo dục. Có thể xem giáo dục là một yếu tố sản xuất, đóng góp tới sự gia tăng năng suất lao động. Nhờ có giáo dục, người lao động có thể mở rộng, nâng cao được các kiến thức, kỹ năng chuyên môn cho hoạt động kinh tế và có được tinh thần thái độ trách nhiệm cao trong công việc.
Ngoài ra, giáo dục còn giúp tăng khả năng sáng tạo của từng cá nhân và giúp việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào quá trình sản xuất được dễ dàng hơn. Từ đó, ta có thể thấy được tác động to lớn của giáo dục tới năng suất của từng cá nhân lao động, nhất là trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ đang diễn ra trên toàn thế giới. Trải qua công cuộc đổi mới, từ một nước nghèo nàn lạc hậu, Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc và đạt được nhiều thành tựu quan trọng về KTXH như duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, mức sống người dân được cải thiện. Tuy nhiên bên cạnh đó, một vấn đề lớn mà nước ta đang phải đối mặt đó là năng suất của người lao động còn thấp, trong khu vực Đông Nam Á, NSLĐ của Việt Nam chỉ cao hơn các nước Lào, Campuchia, Myanmar và còn kém xa so với các nước như Singapore, Thái Lan, Malaysia.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến vấn đề này xuất phát từ việc giáo dục đào tạo lao động ở nước ta còn nhiều hạn chế, khiến cho trình độ của lực lượng lao động chưa cao. Theo số liệu năm 2014 của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của Việt Nam chỉ đạt 18,6%, điều này đã hạn chế khả năng cải thiện năng suất của người 2 lao động. Để giải quyết vấn đề này, Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chính sách, bao gồm cả giáo dục, tuy nhiên do nguồn lực có hạn nên hiệu quả của những chính sách này chưa được như kỳ vọng. Do đó, đòi hỏi cần phải có những nghiên cứu cụ thể về tác động của giáo dục tới NSLĐ tại Việt Nam, từ đó có những giải pháp về giáo dục phù hợp, hướng tới việc nâng cao năng suất của người lao động.
Từ lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu tác động của giáo dục tới năng suất lao động ở Việt Nam” cho luận văn tốt nghiệp. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu chính của đề tài là nghiên cứu tác động của giáo dục tới năng suất của người lao động ở Việt Nam. Dựa trên kết quả nghiên cứu thu được, luận văn sẽ có những đề xuất nhằm nâng cao hơn nữa năng suất của người lao động ở Việt Nam. Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn sẽ trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau đây: - Về lý thuyết, giáo dục có tác động như thế nào đến năng suất lao động? - Đo lường giáo dục và năng suất lao động như thế nào? - Tác động của giáo dục tới năng suất của người lao động ở Việt Nam như thế nào? Chiều hướng, mức độ tác động như thế nào? - Có thể đưa ra những khuyến nghị nào về giáo dục để giúp tăng năng suất của người lao động ở Việt Nam? 3.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là các tác động của giáo dục tới năng suất lao động. Cụ thể hơn luận văn sẽ nghiên cứu sự khác biệt giữa trình độ giáo dục và số năm đi học của lao động có ảnh hưởng như thế nào tới năng suất của cá nhân người lao động. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu vấn đề trên tại Việt Nam. Số liệu được sử dụng để nghiên cứu đề tài chủ yếu lấy từ số liệu điều tra khảo sát mức sống hộ gia đình VHLSS năm 2014 do Tổng cục Thống kê tiến hành và các nguồn số liệu có liên quan khác được tổng hợp, công bố trong thời gian gần đây.
Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu trong kinh tế xã hội, 3 cụ thể phương pháp nghiên cứu được sử dụng để nghiên cứu đề tài gồm có: Phương pháp nghiên cứu tại bàn Bằng việc tận dụng mạng lưới internet cùng với các tài liệu liên quan tới giáo dục, năng suất lao động và tác động của giáo dục tới NSLĐ, luận văn nghiên cứu sắp xếp tài liệu một cách có hệ thống để phân tích, mô tả các nội dung liên quan. Việc nghiên cứu tại bàn giúp hiểu thêm về vấn đề nghiên cứu, tổng quan nghiên cứu, giúp xây dựng mô hình và hiểu thêm lý do đằng sau tác động của giáo dục tới năng suất của người lao động. Phương pháp nghiên cứu định lượng Luận văn sẽ sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả và hồi quy đa biến để đạt được mục tiêu nghiên cứu. Dựa trên số liệu thu thập được từ Điều tra khảo sát mức sống hộ gia đình ở Việt Nam tiến hành năm 2014 và các số liệu có liên quan khác, phương pháp phân tích thống kê mô tả và hồi quy đa biến được sử dụng nhằm mô tả về đối tượng nghiên cứu và đánh giá tác động từ các yếu tố giáo dục tới NSLĐ tại Việt Nam.
Kết quả thu được cho phép hiểu hơn tác động của giáo dục tới năng suất của người lao động Việt Nam, cung cấp các dẫn chứng thực nghiệm về mối quan hệ này. Nội dung cụ thể của những phương pháp nghiên cứu nói trên sẽ được trình bày cụ thể hơn tại chương 2 của luận văn. Kết cấu của luận văn Nội dung chính của luận văn gồm có 4 chương: - Chương 1: Cơ sở lý thuyết nghiên cứu tác động của giáo dục tới năng suất lao động - Chương 2: Phương pháp nghiên cứu - Chương 3: Kết quả thực nghiệm phân tích tác động của giáo dục tới năng suất lao động - Chương 4: Một số kết quả nghiên cứu chính và khuyến nghị 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA GIÁO DỤC TỚI NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG 1. Cơ sở lý thuyết về năng suất lao động 1.
Khái niệm về năng suất lao động Khái niệm năng suất. Theo khái niệm của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), năng suất là “thước đo mức độ hiệu quả của các hoạt động tạo kết quả đầu ra (số lượng sản phẩm, giá trị) từ các yếu tố đầu vào (lao động, vốn, nguyên liệu,…), được xác định bằng tỷ số giữa sản lượng đầu ra với số lượng đầu vào”. Có 2 nhóm chỉ tiêu năng suất như sau: năng suất tính theo từng yếu tố đầu vào và năng suất yếu tố tổng hợp. Năng suất tính theo từng yếu tố đầu vào (Factor Productivity) là nhóm chỉ tiêu năng suất phản ảnh hiệu quả sản xuất tùy theo từng yếu tố đầu vào, bao gồm các loại NSLĐ, năng suất vốn,.
Năng suất yếu tố tổng hợp (Total Factor Productivity - TFP) phản ánh sự thay đổi sản lượng đầu ra trên một tập hợp yếu tố đầu vào được kết hợp với nhau trong quá trình sản xuất bao gồm cả các yếu tố như kiến thức kỹ năng lao động, kỹ năng quản lý, thiết bị công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Khái niệm lao động. LĐ là một hoạt động của con người với mục đích chuyển đổi các nguồn lực đầu vào thành sản phẩm cần thiết cho đời sống, vì vậy lao động có thể nói là một trong những hoạt động quan trọng nhất trong đời sống con người, người lao động là chủ thể của hoạt động lao động. Một khái niệm có liên quan đến lao động là lực lượng lao động (LLLĐ).
Theo khái niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), “LLLĐ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định (15 tuổi trở lên), thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp song đang có nhu cầu tìm việc làm”. Trong LLLĐ, lao động đang có việc làm là bộ phận chiếm tỷ lệ lớn nhất, được định nghĩa là “những người trên 15 tuổi mà trong một khoảng thời gian ngắn nhất định (thường là 1 tuần hoặc 7 ngày), có tham gia vào một hoạt động sản xuất ra hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ để được trả lương hoặc một việc tự kinh doanh để kiếm lợi nhuận; hiểu theo 5 cách khác, đó là những người làm việc ở một công việc được trả lương hoặc một việc tự kinh doanh”. Từ hai khái niệm về năng suất và lao động nói trên, ta có thể rút ra được khái niệm về năng suất lao động, NSLĐ là một chỉ tiêu năng suất tính theo từng yếu tố đầu vào, phản ánh khả năng sản xuất tạo ra của cải hay hiệu suất của một LĐ cụ thể trong quá trình SX, có thể được đo bằng lượng sản phẩm hoặc giá trị tạo ra trong một đơn vị thời gian nhất định hay được đo bằng lượng thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị SP. Phân loại, đo lường năng suất lao động Như định nghĩa nêu trên, NSLĐ được tính theo công chung như sau: Đầ𝑢 𝑟𝑎 (𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị ℎ𝑜ặ𝑐 𝑠ả𝑛 𝑙ượ𝑛𝑔 ) Năng suất lao động (NSLĐ) = 𝐿ượ𝑛𝑔 𝐿Đ ℎ𝑎𝑜 𝑝ℎí đầu ra ở đây được xác định bằng lượng sản phẩm hay lượng giá trị tạo ra; còn lượng lao động hao phí được đo bằng đơn vị như số lượng lao động hoặc thời gian lao động như giờ, ngày công,… Tuy nhiên, tùy theo cách phân loại mà NSLĐ có những cách tính cụ thể khác nhau.
- Nếu phân loại theo phạm vi tính, năng suất lao động bao gồm năng suất lao động cá nhân (NSLĐCN) và năng suất lao động xã hội (NSLĐXH).