ĐẶT VẤN ĐỀ HIV/AIDS là một trong những bệnh truyền nhiễm đƣợc Tổ chức Y tế thế giới xem nhƣ là một đại dịch. Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới tính tới năm 2016 có khoảng 35 triệu ngƣời nhiễm HIV/AIDS và 1,5 triệu ngƣời chết do AIDS trên thế giới [63]. Tại Việt Nam, HIV/AIDS cũng là dịch bệnh lây lan rộng khắp và kéo dài trong hơn mƣời năm qua. Ƣớc tính đến hết năm 2017, cả nƣớc có khoảng 210.000 ngƣời nhiễm HIV/AIDS còn sống [5].
Để ức chế sự phát triển của virut HIV, thì sử dụng thuốc ARV là cách tối ƣu nhất, nó làm cho ngƣời bệnh HIV/AIDS phục hồi chức năng miễn dịch, giảm nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội, cải thiện chất lƣợng cuộc sống, giảm nguy cơ lây truyền HIV cho ngƣời khác và kéo dài tuổi thọ. Điều trị ARV là một quá trình liên tục, kéo dài suốt đời và đòi hỏi sự tuân thủ điều trị tuyệt đối của ngƣời bệnh. Nếu ngƣời bệnh không tuân thủ điều trị tốt sẽ dẫn tới tình trạng kháng thuốc và thất bại điều trị [8]. Điều trị kháng virut HIV ở Việt Nam đã đƣợc mở rộng đáng kể nhờ sự hỗ trợ tài chính từ các dự án quốc tế.
Tuy nhiên trong bối cảnh các dự án đã thông báo ngừng hỗ trợ thuốc ARV, ngƣời bệnh sẽ điều trị ARV thông qua bảo hiểm y tế, thêm vào đó sự kỳ thị trong xã hội vẫn còn rất lớn thì việc duy trì tuân thủ điều trị là vấn đề rất đáng quan tâm. Hà Nội là thành phố đứng thứ hai cả nƣớc về số lƣợng ngƣời nhiễm HIV/AIDS. Toàn thành phố có 22 phòng khám ngoại trú thực hiện cấp phát thuốc ARV miễn phí với số lƣợng đối tƣợng điều trị là khoảng trên 17. Các phòng khám sẽ đƣợc hỗ trợ thuốc ARV miễn phí hết năm 2019 và sẽ triển khai BHYT vào năm 2020.
Phòng khám ngoại trú Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ƣơng là một trong các cơ sở y tế đầu ngành khám và điều trị các bệnh truyền nhiễm trong đó có HIV/AIDS. Tính đến cuối 2018, bệnh viện duy trì quản lý khoảng 2300 ngƣời bệnh điều trị HIV/AIDS. Trong số đó, ngƣời bệnh có hộ khẩu thƣờng trú ngoài khu vực Hà Nội chiếm tới 57% và có tới 15% ngƣời bệnh điều trị bằng phác đồ bậc 2. Đặc biệt đơn vị cũng là nơi tiếp nhận các trƣờng hợp ngƣời bệnh không tuân thủ điều trị dẫn tới tình trạng kháng thuốc, ngƣời bệnh gặp các tác dụng phụ trong quá trình 2 điều trị đƣợc chuyển từ tuyến dƣới lên.
Với số lƣợng ngƣời bệnh quản lý và theo dõi ngày càng tăng, thƣờng xuyên dao động, ngƣời bệnh ở cách xa cơ sở điều trị, ngƣời bệnh liên tục phải đi làm ăn xa… Bên cạnh đó nhằm góp phần hoàn thành mục tiêu 90-90-90 trong phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020, tiến tới chấm dứt dịch HIV/AIDS vào 2030 thì hoạt động đánh giá duy trì TTĐT của ngƣời bệnh, đặc biệt là tìm hiểu các yếu tố từ phía phòng khám ảnh hƣởng nhƣ thế nào tới việc tuân thủ điều trị vẫn còn nhiều hạn chế, từ đó đƣa ra các giải pháp nhằm tăng cƣờng hiệu quả, chất lƣợng điều trị ARV tại PKNT là rất cần thiết. Xuất phát từ tình hình thực tế tại phòng khám, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ điều trị ARV của người bệnh HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung Ương năm 2019”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị ARV của ngƣời bệnh HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ƣơng năm 2019.
Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng đến tuân thủ điều trị ARV của ngƣời bệnh HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ƣơng năm 2019. 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm về HIV/AIDS và tuân thủ điều trị ARV 1. Đại cƣơng về HIV/AIDS Khái niệm HIV/AIDS HIV là virut gây suy giảm miễn dịch ở ngƣời, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh.
HIV thuộc họ retrovirus (virut có khả năng sao chép ngƣợc) [4]. AIDS là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải, là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV [4]. Đƣợc thể hiện bởi các bệnh nhiễm trùng cơ hội mắc phải, ung thƣ và các bệnh liên quan đến rối loạn miễn dịch. Các phương thức lây truyền HIV Cho đến nay HIV có 3 phƣơng thức lây truyền chính : đƣờng máu, đƣờng quan hệ tình dục và đƣờng từ mẹ sang con - Lây truyền qua đƣờng tình dục : HIV có nhiều trong dịch tiết sinh dục nhƣ dịch tiết âm đạo, tinh dịch…các vết xƣớc, loét vùng hậu môn, sinh dục là ngõ cửa để HIV dễ dàng xâm nhập.
- Lây qua đƣờng máu : HIV có nhiều trong máu và các chế phẩm của máu. HIV lây truyền qua đƣờng máu do truyền máu, dùng chung bơm kim tiêm, vết sƣớc tiếp xúc với máu… - Lây từ mẹ sang con : có thể xảy ra trong lúc mang thai, trong và sau khi sinh con. Giai đoạn nhiễm HIV - Theo giai đoạn lâm sàng : Theo WHO, nhiễm HIV ở ngƣời lớn đƣợc chia thành 4 giai đoạn lâm sàng, tùy thuộc vào các triệu chứng liên quan đến HIV của ngƣời nhiễm gồm [1], [2] : Giai đoạn lâm sàng 1 (không triệu chứng), giai đoạn lâm sàng 2 (triệu chứng nhẹ), giai đoạn lâm sàng 3 (triệu chứng tiến triển), giai đoạn lâm sàng 4 (triệu chứng nặng). 5 - Phân loại giai đoạn miễn dịch : Tình trạng miễn dịch của ngƣời nhiệm HIV đƣợc đánh giá thông qua chỉ số tế bào CD4 gồm [1], [2] : Bình thƣờng hoặc suy giảm không đáng kể : CD4 >= 500 Suy giảm nhẹ : CD4 350-499 Suy giảm tiến triển : CD4 200-349 Suy giảm nặng: < 200 1.
Điều trị ARV cho ngƣời bệnh HIV/AIDS Thuốc ARV ARV là tên viết tắt của Antiretrovaral, là thuốc có thể hạn chế sự phát triển của virut HIV. Thuốc ARV trong điều trị ngƣời bệnh HIV là thuốc đƣợc kết hợp từ ít nhất 3 loại thuốc trở lên theo hƣớng dẫn phác đồ điều trị đã đƣợc Bộ Y tế ban hành [1]. Mục đích điều trị Ngăn chặn tối đa và lâu dài sự nhân lên của vi rút HIV trong cơ thể ngƣời. Phục hồi chức năng miễn dịch.
Giảm nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội. Cải thiện chất lƣợng cuộc sống và kéo dài tuổi thọ. Nguyên tắc điều trị Phối hợp thuốc: Phối hợp đúng cách ít nhất là 3 loại thuốc ARV. Điều trị sớm: Điều trị ngay khi ngƣời bệnh đƣợc chẩn đoán nhiễm HIV và đủ tiêu chuẩn điều trị.
Điều trị liên tục và suốt đời: Ngƣời bệnh phải đƣợc theo dõi và điều trị ARV suốt đời. Tuân thủ điều trị ARV - Khái niệm tuân thủ điều trị ARV Theo định nghĩa đƣợc Bộ Y tế đƣa ra trong quyết định số 5418 thì tuân thủ điều trị ARV là việc ngƣời bệnh uống thuốc đầy đủ theo đúng phác đồ bác sĩ chỉ định và thực hiện 3 đúng sau: đúng thuốc (không quên thuốc), đúng liều, đúng giờ. Ngƣời bệnh phải duy trì uống thuốc đạt ít nhất 95% mới có thể ngăn chặn virut HIV 6 và tránh dẫn tới việc kháng thuốc, nghĩa là việc ngƣời bệnh thực hiện sai 3 đúng không quá 1 lần/tháng thì đƣợc coi là tuân thủ điều trị ≥ 95%[1], [2]. Đúng thuốc: Đúng loại thuốc ARV đƣợc chỉ đinh, không bỏ/quên thuốc.
Đúng giờ: Giờ uống thuốc nhất định của ngƣời bệnh. Đúng liều: Liều thuốc uống tính đủ theo cân nặng và thể trạng ngƣời bệnh. Trong công tác đánh giá TTĐT của nghiên cứu, tuân thủ đƣợc xác định thông qua việc ngƣời bệnh thực hiện 5 đúng trong vòng một tháng trƣớc ngày tham gia nghiên cứu. Một ngƣời bệnh đƣợc coi là TTĐT khi ngƣời bệnh đó đảm bảo đƣợc các tiêu chí sau: + Bỏ thuốc hoặc quên uống thuốc không quá 1 lần/tháng + Uống sai liều không quá 1 lần/tháng + Sai giờ (>1 giờ) không quá 1 lần/tháng - Đánh giá mức độ tuân thủ điều trị ARV Tuân thủ điều trị là một vấn đề hết sức phức tạp, có rất nhiều cách để thực hiện đánh giá mức độ TTĐT ARV của ngƣời bệnh tuy nhiên không có cách nào là tiêu chuẩn để đo lƣờng nó.
Mỗi phƣơng pháp đều có điểm mạnh và điểm yếu khác nhau. Các phƣơng pháp dƣới đây đƣợc cho là những giải pháp để đánh giá TTĐT ARV của ngƣời bệnh [54], [55]: - Đếm số lƣợng thuốc còn: Hàng tháng, khi ngƣời bệnh đến tái khám thì ngƣời bệnh, ngƣời hỗ trợ điều trị(nếu có) mang số thuốc còn tồn đến. Nhân viên y tế tính số lƣợng thuốc đã dùng bằng = số thuốc cấp trong lần khám trƣớc - số thuốc hiện tại còn lại. Tỷ lệ tuân thủ = số thuốc đã dùng/Tổng số thuốc cần dùng x 100%.
Biện pháp trên mặc dù đơn giản nhƣng cũng khó khăn khi thực hiện vì ngƣời bệnh có thể quên không mang thuốc khi tới khám, tạo tâm lý không thoải mái cho ngƣời bệnh và phƣơng pháp này chỉ đánh giá đƣợc việc họ có uống đủ thuốc hay không chứ không đánh giá đƣợc cách sử dụng thuốc của ngƣời bệnh. - Phƣơng pháp nhớ lại lịch sử dùng thuốc: Khi ngƣời bệnh tới khám, nhân viên y tế sẽ khai thác lịch sử dùng thuốc trong tháng qua của ngƣời bệnh. Ngƣời bệnh tự báo cáo về việc tuân thủ của mình thông qua bộ câu hỏi. Phƣơng pháp này có ƣu điểm là chi phí thấp, mất ít thời gian, có thể tìm hiệu đƣợc ngƣời bệnh có thực 7 hiện đủ 5 đúng hay không.
Tuy nhiên phƣơng pháp này chịu ảnh hƣởng nhiều bởi tâm lý ngƣời bệnh khi đƣợc hỏi vì sợ bị nhắc nhở nên họ trả lời có thể chƣa đúng. Một số bộ câu hỏi phỏng vấn ngƣời bệnh đã đƣợc thiết kế trên thế giời nhƣ: + VAS (Visual Analog Scale): là phƣơng pháp đánh giá đơn giản dự trên thang điểm từ 0-100, ngƣời bệnh đƣợc yêu cầu đánh dấu vào một điểm trên đƣờng tỷ lệ tƣơng ứng mức độ TTĐT của mình trong 1 khoảng thời gian nào đó[37]. + CASE (Case Adherence Index Questionnaire): Bộ câu hỏi này gồm 3 câu hỏi “ Anh chị có thƣờng xuyên gặp khó khăn trong việc uống thuốc đúng giờ hay không. Trung bình bao nhiêu ngày trong 1 tuần anh chị lỡ mất ít nhất 1 lần uống thuốc.
Lần cuối anh chị bỏ lỡ một lần uống thuốc là bao giờ” [41]. - Phƣơng tiện hỗ trợ theo dõi uống thuốc: Hộp thuốc điện tử thƣờng có gắn hệ thống theo dõi và ghi chép lại số lƣợt mở nắp hộp thuốc của ngƣời bệnh. Phƣơng pháp này tự động sẽ báo khoảng cách giữa các liều, số lần mở chai uống thuốc.