ĐẶT VẤN ĐỀ Từ khi trƣờng hợp nhiễm HIV đầu tiên đƣợc phát hiện đến nay, loài ngƣời đã phải đối phó với đại dịch hết sức nguy hiểm mà hậu quả của nó không chỉ một quốc gia, một châu lục mà là tất cả các nƣớc trên thế giới đã và đang gánh chịu. Để hạn chế sự lan rộng của đại dịch HIV/AIDS và kéo dài cuộc sống cho những ngƣời bị mắc bệnh, nhiều biện pháp nhƣ tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức, hiểu biết về HIV cho cộng đồng, điều trị dự phòng, điều trị nhiễm trùng cơ hội và điều trị thuốc kháng vi rút (ARV) cho ngƣời nhiễm đƣợc triển khai. Trong các biện pháp trên, việc chăm sóc, hỗ trợ và điều trị bằng các thuốc ARV đóng một vai trò rất quan trọng. Mặc dù các thuốc ARV không điều trị khỏi HIV/AIDS nhƣng đã làm giảm đáng kể tỷ lệ bệnh tật và tử vong, kéo dài và cải thiện cuộc sống một cách có ý nghĩa cho nhiều ngƣời đang phải chung sống với AIDS.
Điều trị ARV cho bệnh nhân AIDS đã góp phần cải thiện rõ rệt tỷ lệ mắc nhiễm trùng cơ hội, gia tăng chất lƣợng cuộc sống và quan trọng hơn là kéo dài sự sống, giảm nguy cơ tử vong cho ngƣời bệnh. Tại Việt Nam, để đáp ứng chống lại đại dịch HIV, năm 2000 Bộ Y tế ban hành hƣớng dẫn quốc gia về chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS, đƣợc bổ sung chỉnh sửa vào năm 2005, 2009 [1]. Bộ Y tế cũng có kế hoạch phân cấp điều trị bằng việc thiết lập các phòng khám ngoại trú tại các tỉnh, thành phố. Việc triển khai điều trị này đã mang lại hy vọng và tƣơng lai cho nhiều ngƣời nhiễm HIV/AIDS, cũng nhƣ kịp thời ngăn chặn sự lây nhiễm HIV cho những đối tƣợng nguy cơ cao và cộng đồng.
Tuân thủ điều trị là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của điều trị ARV. Tuân thủ điều trị ARV nghĩa là sử dụng thuốc đúng liều, đúng thời gian, đúng cách theo hƣớng dẫn của thầy thuốc. Việc uống thuốc đúng thời gian, đúng cách, đúng số thuốc quy định (trên 95%) là rất cần thiết để đạt đƣợc liều ức chế virut tối đa, đạt hiệu quả điều trị cao [1]. Nếu tuân thủ điều trị kém sẽ có khả năng dẫn đến virut HIV kháng thuốc và làm thất bại điều trị.
Bên cạnh đó, điều trị HIV/AIDS là điều trị suốt đời nên việc tuân thủ điều trị là rất quan trọng. Do đó, 2 để chƣơng trình chăm sóc và điều trị HIV/AIDS đạt đƣợc hiệu quả và giúp bệnh nhân HIV/AIDS kéo dài cuộc sống đòi hỏi bệnh nhân phải tuân thủ điều trị hết sức chặt chẽ. Quá trình điều trị thuốc ARV là quá trình vừa điều trị, vừa thăm dò. Điều trị ARV đặc biệt khác với các loại điều trị khác, bệnh nhân đƣợc lựa chọn điều trị phải theo một qui trình nhất định.
Tại Việt Nam, ngày 19 tháng 8 năm 2009, Bộ Y tế ban hành Quyết định số 3003/QĐ - BYT về việc hƣớng dẫn chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS [1] và Quyết định số 4746/QĐ - BYT ngày 8 tháng 12 năm 2012 của Bộ Y tế về việc ban hành tài liệu Điều trị và chăm sóc cơ bản cho trẻ em nhiễm HIV [4]. Tại Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về tuân thủ điều trị ở bệnh nhân HIV/AIDS ngƣời lớn. Tuy nhiên có rất ít nghiên cứu về tuân thủ điều trị ở bệnh nhân HIV/AIDS trẻ em đƣợc công bố trên các tạp chí. Nghiên cứu đánh giá tình hình tuân thủ điều trị ARV tại Bệnh viện Nhi đồng 1 cho thấy tỷ lệ bệnh nhi có tuân thủ điều trị thuốc ARV chung là 57,7% [13].
Tuy nhiên một nghiên cứu khác về thực trạng quản lý, chăm sóc, điều trị cho trẻ em nhiễm HIV/AIDS và bị ảnh hƣởng bởi HIV/AIDS tại Trung tâm Giáo dục, Lao động- Xã hội số 02 (2007) cho thấy tỷ lệ trẻ em đƣợc nhắc uống thuốc đúng giờ và đúng liều quy định rất cao với 93,3% [11]. Điều này đƣợc giải thích bởi các em đều đƣợc quản lý và chăm sóc ở cùng một nơi, cùng sống trong một điều kiện, nên những ngƣời chăm sóc trẻ chính có nhiều thuận lợi trong việc hỗ trợ tuân thủ điều trị cho các em. Nhƣ vậy, tại tỉnh Đồng Tháp năm 2014, tỷ lệ tuân thủ điều trị ARV ở trẻ nhiễm HIV/AIDS là bao nhiêu?. Một số yếu tố nào có liên quan đến tuân thủ điều trị? Để nâng cao hiệu quả điều trị HIV/AIDS cho trẻ em, chúng ta cần biết đƣợc mức độ tuân thủ điều trị ARV trên những bệnh nhân trẻ em nhƣ thế nào và những yếu tố ảnh hƣởng đến sự tuân thủ điều trị đó.
Nghiên cứu này đƣợc thiết kế nhằm mô tả “Thực trạng tuân thủ điều trị ARV ở trẻ em nhiễm HIV/AIDS và một số yếu tố liên quan tại phòng khám ngoại trú - Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Đồng Tháp năm 2014”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị ARV ở trẻ em nhiễm HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú, Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Đồng Tháp, năm 2014. Xác định một số yếu tố liên quan tới tuân thủ điều trị ARV và tái khám đúng hẹn ở trẻ em HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú, Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Đồng Tháp, năm 2014.
4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Dịch HIV/AIDS trên Thế giới và tại Việt Nam HIV/AIDS là tình trạng bệnh mãn tính không thể chữa khỏi, hệ thống miễn dịch của ngƣời nhiễm HIV/AIDS sẽ bị suy yếu dần khiến cho họ mắc các bệnh NTCH, có thể gây tử vong nhanh chóng. Hiện nay do chƣa có thuốc điều trị khỏi và vắc xin phòng bệnh đặc hiệu nên các biện pháp hiệu quả nhằm hạn chế tối đa tác hại và sự lan truyền HIV vào cộng đồng là dự phòng với 3 mục tiêu chính: Hạn chế tốc độ lây lan HIV, làm chậm quá trình tiến triển từ nhiễm HIV tới bệnh AIDS và làm giảm ảnh hƣởng của HIV/AIDS tới kinh tế - xã hội. Theo báo cáo của UNAIDS, năm 2008 ƣớc tính trên Thế giới có khoảng 33,4 triệu ngƣời nhiễm HIV/AIDS trong đó có 2,1 triệu trẻ em dƣới 15 tuổi với gần 80% trẻ sống ở vùng cận Saharan châu Phi, số ngƣời tử vong do AIDS là 2 triệu ngƣời với khoảng 280.000 trẻ em dƣới 15 tuổi. Dịch HIV/AIDS xuất hiện ở hầu hết các nơi trên Thế giới và ngày càng có xu hƣớng gia tăng, ƣớc tính của UNAIDS năm 2008 có khoảng 2,7 triệu ca nhiễm HIV mới trong đó khoảng 430.000 trẻ em dƣới 15 tuổi.
Trong những năm gần đây dịch HIV/AIDS có xu hƣớng gia tăng cao ở các vùng Đông Âu, Trung Á và Châu Phi. Châu Phi là nơi bị ảnh hƣởng nặng nhất bởi HIV/AIDS với gần 71% (390.000) trẻ em nhiễm mới vào năm 2008. Số trẻ em nhiễm HIV mới tại một số vùng khác nhƣ: châu Á khoảng 21.000 trẻ, Đông Âu và Trung Á gần 3.700 trẻ, Châu Mỹ La Tinh là 6.900 trẻ, vùng Bắc Phi và Trung Đông là 4.600 trẻ, vùng Vịnh Caribbean là nơi bị ảnh hƣởng nhiều bởi vùng Cận Saharan châu Phi với số trẻ nhiễm mới là 2. Số trẻ em nhiễm mới ở các vùng Bắc Mỹ, Tây và Trung Âu, Châu Úc khá thấp với dƣới 500 trẻ [27].
Tại Việt Nam dịch HIV/AIDS đang trong giai đoạn tập trung, chủ yếu ở nhóm có hành vi nguy cơ cao, kết quả giám sát trọng điểm năm 2010 tỷ lệ hiện nhiễm HIV nhóm nghiện chích ma túy là 17,2%, tiếp đến nhóm phụ nữ bán dâm tỷ lệ nhiễm HIV là 4,6%. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm đại diện cho cộng đồng 5 đang ở mức thấp, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ mang thai khoảng 0,26% và nhóm thanh niên khám tuyển nghĩa vụ quân sự khoảng 0,08%. Hình thái nguy cơ lây nhiễm HIV chủ yếu lây truyền qua đƣờng tiêm chích ma túy do dùng chung bơm kim tiêm, tuy nhiên tỷ trọng ngƣời nhiễm HIV lây qua đƣờng tình dục đang tăng dần và chiếm tỷ lệ lớn hơn so với những năm trƣớc đây [5].2 Giới thiệu chung về tình hình chăm sóc, điều trị HIV/AIDS cho trẻ em trên Thế giới và Việt Nam 1.1 Trên Thế giới Hiện nay, Châu Á Thái Bình Dƣơng có số ngƣời nhiễm HIV cao thứ hai trên thế giới (chiếm 21% số ngƣời có HIV trên thế giới bao gồm cả Trung Quốc và Ấn Độ) và con số này còn gia tăng theo xu hƣớng chung của toàn thế giới. Đông Á có tỉ lệ lây truyền HIV cao nhất thế giới, tới 24% trong riêng năm 2004.
Vào cuối năm 2005, ƣớc tính có khoảng 450,000 trẻ em ở Đông Á và Thái Bình Dƣơng bị mồ côi cha mẹ do AIDS, và cũng có khoảng ít nhất từng đó em phải sống với cha mẹ bị ốm đau quanh năm.000 em bị nhiễm HIV, trong đó gần 11.000 em mới bị nhiễm năm 2005. Ƣớc tính có hàng triệu em có nguy cơ bị nhiễm HIV cao hoặc bị kỳ thị, phân biệt đối xử hoặc vị nghèo đói do các em sống với ngƣời bị nhiễm hoặc sống trong các gia đình bị ảnh hƣởng bởi HIV/AIDS. Kỳ thị và phân biệt đối xử do HIV/AIDS đã ngăn không cho nhiều ngƣời tiếp cận với các dịch vụ mà họ cần. Nhiều trẻ em bị ảnh hƣởng bởi AIDS đã bị đuổi ra khỏi trƣờng học, bị ảnh hƣởng vì thu nhập gia đình giảm và không đƣợc hƣởng các dịch vụ cơ bản nhƣ chăm sóc sức khỏe.
Các cuộc điều tra đã chỉ ra rằng hơn 1/4 trẻ bị nhiễm HIV/AIDS ở Inđônêxia và Thái Lan đã và gần 1/2 ở Philipine bị phân biệt đối xử trong việc chăm sóc sức khỏe. Hơn 1/3 các em bị tiết lộ về tình trạng nhiễm HIV của mình và 15% các em bị từ chối điều trị khi nhân viên y tế phát hiện ra các em bị nhiễm HIV. Thuốc đặc trị có thể kéo dài cuộc sống của bố mẹ và trì hoãn một cuộc khủng hoảng trẻ mồ côi do AIDS. Tuy nhiên, khoảng 85% ngƣời cần đƣợc điều trị ở Châu Á không đƣợc sử dụng những thuốc này.
Con số trẻ em bị nhiễm HIV do 6 lây truyền từ mẹ đƣợc sử dụng những thuốc này còn ít hơn nhiều. Khoảng 1% trên toàn Châu Á đƣợc điều trị bằng ARV. Trƣớc xu thế ngày càng tăng của đại dịch, vấn đề chăm sóc, hỗ trợ cho ngƣời nhiễm HIV/AIDS đƣợc đặt ra là một trọng tâm của Chƣơng trình Phòng, chống HIV/AIDS trong đó trẻ em là một trong những đối tƣợng đƣợc quan tâm hàng đầu. Tại một số nƣớc, chƣơng trình dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con và chƣơng trình chăm sóc và điều trị HIV/AIDS cho trẻ em đƣợc triển khai rất mạnh mẽ và đã đạt đƣợc những thành tựu đáng kể.
Đến tháng 12/2008, trên Thế giới có 275.