CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm bệnh lao 1. Đặc điểm sinh học bệnh lao Bệnh Lao là một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn lao (Mycobacterium tuberculosis) gây nên.
Lao phổi chiếm trên 80 - 85% các bệnh lao ở người (9). Thời gian tồn tại ngoài môi trường của vi khuẩn lao có thể lên đến 3-4 tháng, tồn tại trong phòng tối, ẩm sau 3 tháng và giữ được động lực, dưới ánh nắng mặt trời trực khuẩn lao chết trong vòng 1,5 giờ, với cồn 90 độ vi khuẩn lao tồn tại được 3 phút, trong acid phenic 5% vi khuẩn chỉ sống được 1 phút (10). Bệnh lao lây nhiễm chủ yếu qua đường hô hấp do hít phải các hạt nước bọt nhỏ li ti có chứa vi khuẩn lao. Bệnh nhân lao phổi AFB (+) trong đờm có nhiều vi khuẩn có thể nhìn thấy qua soi đờm trực tiếp bằng kính hiển vi.
Một bệnh nhân lao phổi nếu không được phát hiện kịp thời thì có thể làm lây bệnh ít nhất từ 10 – 15 người khác trong một năm (10). Bệnh lao (Tuberculosis - TB) là bệnh nhiễm trùng tiến triển mãn tính, thường có thời gian tiềm tàng sau nhiễm trùng ban đầu Lao thường ảnh hưởng đến phổi. Triệu chứng bao gồm ho có đờm, sốt, giảm cân, và khó chịu. Chẩn đoán thường là do xét nghiệm và nuôi cấy đờm và ngày càng có nhiều xét nghiệm chẩn đoán nhanh bằng kĩ thuật phân tử Điều trị bằng nhiều thuốc kháng sinh kéo dài ít nhất 6 tháng (11).
Nhóm nguy cơ cao Người tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây. Nhóm người dễ tổn thương: người già yếu, người vô gia cư, suy dinh dưỡng, trẻ em, người nhiễm HIV Người mắc các bệnh mạn tính như đái tháo đường, loét dạ dày - tá tràng, suy thận mạn. Người sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch kéo dài như corticoid, hoá chất điều trị ung thư… Người nghiện ma tuý, rượu, thuốc lá, thuốc lào. Giám sát Giám sát một chương trình là thu thập dữ liệu định kỳ để đo lường tiến độ thực hiện chương trình nhằm đạt được mục tiêu của chương trình.
Mục đích để cho phép các bên liên quan đưa ra quyết định tùy thuộc vào tính hiệu quả của chương trình và hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực. Giám sát đôi khi còn được gọi là đánh giá quá trình bởi vì nó tập trung vào quá trình thực hiện. Giám sát thường đi liền với đếm, theo dõi và thu thập 1. Tình hình bệnh lao trên thế giới và Việt Nam 1.
Tình hình bệnh lao trên thế giới Năm 2015, trên thế giới có khoảng 10,4 triệu ca mắc lao mới, trong đó 56% bệnh nhân là nam giới, 34% là phụ nữ và 10% là trẻ em. Có 1,8 triệu người chết trong đó hơn 955 các ca tử vong xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Có 1,2 triệu người lao đồng nhiễm với HIV chiếm 11% của tất cả các trường hợp lao mới. Sáu quốc gia chiếm 60% ca mắc lao mới gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Nigeria, Indonesia, Pakistan và Nam Phi (11).
Ấn Độ là quốc gia gánh nặng bệnh lao cao nhất thế giới và chiếm gần 20% gánh nặng bệnh lao trên toàn cầu. Bệnh lao đã giết chết gần 0,37 triệu người Ấn Độ hàng năm với tỉ lệ tử vong khoảng 28/100. Tại Mỹ, vào năm 2015, đã có 9,557 ca lao được báo cáo (tỷ lệ 3 ca trên 100. Mặc dù số ca bệnh lao giảm hàng năm từ năm 1993 đến năm 2014, tỷ lệ mắc vẫn tương đối ổn định kể từ năm 2013.
Vào năm 2015, 66,4% số trường hợp lao được báo cáo ở Hoa Kỳ xảy ra ở những người sinh ra ở nước ngoài. Tỷ lệ mắc lao trong số những người sinh ra ở nước ngoài (15,1 / 100.000) cao hơn khoảng 13 lần tỷ lệ ở những người sinh tại Hoa Kỳ (1. Phần lớn những trường hợp ngoại kiều này là những người đã ở Hoa Kỳ ≥ 5 năm. Tại Hoa Kỳ, người châu Á, người Hawai bản địa và những người dân Thái Bình Dương khác có tỉ lệ mắc cao nhất (18,2 / 100.000), tiếp theo là người Mỹ bản địa hoặc người Alaska (6.000), da đen hoặc người Mỹ gốc Phi (5.000) và người gốc Tây Ban Nha Người La tinh (4.
Sự tái xuất hiện của bệnh lao diễn ra ở các vùng của Hoa Kỳ và các nước phát triển khác trong khoảng từ năm 1985 đến năm 1992; nó có liên quan đến nhiều yếu tố, bao gồm đồng nhiễm HIV, tình trạng vô gia cư, cơ sở hạ tầng y tế công cộng suy giảm, và 6 sự xuất hiện của bệnh lao kháng thuốc. Mặc dù được kiểm soát đáng kể ở Hoa Kỳ bằng các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn và sức khoẻ cộng đồng hiệu quả, nhưng vấn đề về MDR-TB, bao gồm cả bệnh lao kháng thuốc rất nhiều, dường như đang tăng lên khắp thế giới, do nguồn lực không đầy đủ, và hệ thống phân phối điều trị (11). Ở hầu hết các nơi trên thế giới, bệnh lao kháng thuốc không thể được chẩn đoán nhanh chóng và điều trị kịp thời bằng các phác đồ hiệu quả, bao gồm quản lý có hiệu quả các tác dụng bất lợi của thuốc kháng lao hàng thứ 2 Tình trạng này dẫn đến lây nhiễm tiếp tục, tỉ lệ chữa khỏi thấp và kháng thuốc. Việc điều trị lao kháng thuốc thậm chí có hiệu quả kém hơn; tỷ lệ tử vong là rất cao ở bệnh nhân đồng nhiễm HIV, ngay cả khi họ đang được điều trị bằng thuốc kháng vi rút.
Điều trị hiệu quả và quản lý các biến chứng, tiếp cận cộng đồng và hỗ trợ xã hội đã dẫn đến xu hướng dịch tễ học giảm xuống đối với bệnh lao kháng thuốc ở một số khu vực (ví dụ như Peru, vùng Tomsk của Nga). Ấn Độ và Trung Quốc mới bắt đầu triển khai các chương trình lao kháng thuốc toàn quốc, và tương lai của lao kháng thuốc có thể bị ảnh hưởng lớn bởi sự thành công hay thất bại của các chương trình này(11). Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2019, nhiều quốc gia có gánh nặng bệnh Lao cao đã không đạt các mục tiêu quan trọng năm 2020 của Chiến lược chấm dứt bệnh Lao. Toàn cầu tỷ lệ mắc Lao đang giảm, nhưng chưa đủ đạt tốc độ nhanh để đạt đến mục tiêu năm 2020 là giảm 20%.
Trong giai đoạn 2015-2019, chỉ giảm tổng cộng là 9% (Giảm từ 142 xuống 132 ca mới /100. Số ca tử vong do Lao mỗi năm cũng đang giảm trên toàn cầu nhưng cũng không đạt mục tiêu năm 2020 là giảm 35%. Thực tế từ năm 2015-2019 chỉ giảm 14%, chưa đạt được 50% của mục tiêu đề ra(12). Tình hình bệnh lao ở Việt Nam Bệnh lao tập trung ở các quần thể dân số dễ bị tổn thương, như dân di cư, trẻ em, người già và người nghèo.
Việc phát hiện ra các ca mắc bệnh lao trong các nhóm này có thể còn găp nhiều khó khăn hơn so với ở nhóm dân số chung. Ngoài ra, ước tính có khoảng 5.000 ca mắc lao kháng đa thuốc (MDR-TB) xảy ra trong năm 2013 tại Việt Nam (3). 7 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 374/QĐ-TTg năm 2014 phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng chống lao đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 (13). Đến nay chương trình chống lao Việt Nam đã bao phủ 100% vùng lãnh thổ.
Hiện nay việc chẩn đoán lao vẫn dựa trên phát hiện thụ động với người nghi lao có triệu chứng ho khạc đờm trên 2 tuần. Tuy nhiên, theo kết quả điều tra, chỉ có 53% những người có triệu chứng ho khạc đờm trên 2 tuần được chẩn đoán lao phổi AFB (+). Như vậy, một lượng lớn các bệnh nhân đã không được phát hiện (14). Theo báo cáo của WHO năm 2015, Việt Nam hiện vẫn là nước có gánh nặng bệnh lao cao, đứng thứ 14/30 nước có số bệnh nhân lao cao nhất trên toàn cầu, đồng thời đứng thứ 11 trong số 30 nước có gánh nặng bệnh lao kháng đa thuốc cao nhất thế giới (15).
Số người chết do Lao năm 2018 ở Việt Nam ước tính là 11.000 người và có thêm 2.000 người chết vì Lao/HIV. Bệnh Lao là kẻ giết người thầm lặng. Không ai bị mắc Lao mà tử vong ngay, bệnh thường kéo dài âm thầm và phát hiện muộn. Những người tử vong do Lao chủ yếu là do chưa được phát hiện và điều trị kịp thời(12).
Bệnh Lao hoàn toàn có thể chữa khỏi, mỗi năm Viêt Nam đã phát hiện và điều trị lành trên 100.000 bệnh nhân Lao với tỹ lệ khỏi >90% những trường hợp Lao mới và 70% bệnh nhân Lao đa kháng thuốc sử dụng phác đồ dài hạn và 80% với bệnh nhân Lao đa kháng thuốc sử dụng phác đồ ngắn hạn. Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh nhân được phát hiện và báo cáo mới chỉ đạt 60%, như vậy có 40% số bệnh nhân Lao chưa phát hiện và hoặc được phát hiện nhưng báo cáo trong cộng đồng(12). Theo Báo cáo chung tổng quan ngành y tế (JAHR) năm 2015, khó khăn chủ yếu là việc quản lý điều trị lao ở một số nơi vẫn còn chưa tốt, nhận thức, thực hành của người dân và việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa (16). Tại Việt Nam, trong 6 tháng đầu năm 2020, số liệu phát hiện của Chương trình Chống lao Quốc gia có xu hướng giảm mạnh (11%) so với cùng kỳ năm 2019.
Tổng số người được xét nghiệm X-pert MTB-Rif là trên 71.000 người, số bệnh nhân thu dung là 1.516, chỉ đạt 64,8% so với chỉ tiêu. Tỉ lệ điều trị thành công của lô bệnh nhân đăng ký điều trị Q1 và Q2 năm 2018 (đánh giá trên 1.468 bệnh nhân) đạt 70%, có phần cao hơn kết quả các lô bệnh nhân thu dung năm 2016, 2017 (ở mức 68%, 69%), tuy nhiên vẫn 8 thấp hơn so với các năm 2014, 2015 (75%). Tỉ lệ bỏ điều trị tiếp tục ở mức cao (15,3%) và luôn ở mức cao trong các năm gần đây (17). Mặc dù bị ảnh hưởng do đại dịch COVID-19 nhưng 6 tháng đầu năm, Chương trình chống lao Quốc gia vẫn duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% số quận huyện và 100% số xã, phường.
Tỉ lệ dân số được chương trình chống lao tiếp cận đạt 100%. Bên cạnh đó, mạng lưới chống lao tiếp tục được mở rộng và củng cố. Hiện nay 48/63 tỉnh, thành phố đã thành lập Bệnh viện phổi, Bệnh viện lao và bệnh phổi. Chương trình tiếp tục triển khai các hoạt động phát triển mạng lưới; đồng thời hỗ trợ tham mưu Bộ Y tế về cơ cấu tổ chức, hoạt động của 15 tỉnh không có bệnh viện chuyên khoa để đảm bảo nhân lực triển khai công tác chống lao.